TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 93/2025/HSST Ngày: 26/3/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Minh
- Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Kim Hoa
2. Ông Trần Đức Hảo
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Thuý Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên toà: Bà Tạ Minh H - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025; tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2025/HSST ngày 27 tháng 02 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Thị T; Sinh ngày: 05 tháng 10 năm 1965 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: Xóm T, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: khối E, phường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Ngọc T1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1943; Chồng: Hoàng Khắc T2, sinh năm: 1963 và có 01 con sinh năm 1989; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: - Ngày 23/01/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xử phạt 16 tháng 03 ngày Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 05/2014/HSST ngày 23/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn.
- Ngày 17/07/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt Bản án số 05/2014/HSST ngày 23/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 07 tháng 12 ngày tù tại Bản án số 41/2014/HSST ngày 17/07/2014. Chấp hành xong hình phạt ngày 28/01/2017.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/12/2024 đến ngày 18/12/2024, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1980; Trú tại: khối C, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982; Trú tại: khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Bà Đỗ Thị H2, sinh năm 1963; Trú tại: khối B, phường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Hoàng Khắc T2, sinh năm 1963; Trú tại: khối E, phường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian từ tháng 04 năm 2024 đến tháng 12 năm 2024, Huỳnh Thị T cho nhiều người dân trên địa bàn thành phố V vay tiền bằng hình thức “Bốc bát họ” (hình thức cho vay nặng lãi ngắn hạn), với mức lãi suất từ 102,2%/năm đến 110,6 %/năm, cao gấp 5,11 lần đến 5,53 lần so với mức lãi suất cao nhất do Bộ luật Dân sự quy định. Khi muốn vay tiền, người vay liên lạc với T để thỏa thuận về số tiền vay, lãi suất, thời hạn trả tiền gốc. T cho người vay tiền với mức lãi suất khác nhau và tùy theo mức độ mối quan hệ T cắt lãi trước hoặc sau hoặc không lấy lãi suất. Kỳ hạn mỗi khoản vay thường là 33, 40, 50 ngày, mỗi ngày người vay phải trả cho T số tiền tương ứng với khoản vay, thời gian vay. T và người vay tiền thỏa thuận nhận tiền cho vay; trả tiền gốc, lãi các khoản vay bằng cách đưa trực tiếp hoặc T sử dụng 02 (Hai) tài khoản ngân hàng V (số tài khoản: “102877709437” mang tên Huỳnh Thị T và số tài khoản: “0898009963”, mang tên Hoàng Khắc T2) chuyển tiền cho vay và nhận tiền lãi, tiền gốc từ người vay tiền. Để liên lạc với những người vay tiền, giục người vay trả tiền hàng ngày và khi đến hạn, T sử dụng 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G, màu đen, lắp thẻ sim số thuê bao “0982.522.409” và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đỏ, lắp thẻ sim số thuê bao “0963.562.965”.
Ngày 09/12/2024, Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, T đầu thú về hành vi phạm tội của mình và giao nộp 01 (một) điện thoại di động (đã qua sử dụng) nhãn hiệu Nokia 105 4G, màu đen, lắp thẻ sim số điện thoại “0982.522.xxx”, số Imei: 358589298294760 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 (đã qua sử dụng), màu đỏ, lắp thẻ sim số điện thoại “0963.562.xxx”, số Imei: 355435976241272; 05 (Năm) tờ giấy A4 có ghi chép danh sách, lịch sử các khoản vay.
Quá trình điều tra xác định T đã cho một số người vay tiền với lãi suất cao để thu lợi bất chính, cụ thể như sau:
1. Chị Đỗ Thị H2 vay Huỳnh Thị T 11 lần cụ thể như sau:
Khoản vay 1: Ngày 21/4/2024, chị H2 vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 50 ngày, T cắt lãi trước 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tương đương với lãi suất 102,2%/năm - Cao gấp 5,11 lần lãi suất cao nhất được hưởng của Bộ luật Dân sự. Chị H2 nhận được số tiền vay là 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) sau khi đã trả cho T số tiền lãi 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tiền gốc 01 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Đến nay, tiền gốc khoản vay chị H2 đã trả hết cho T.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 50 ngày = 1.369.863 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.000.000 đồng – 1.369.863 đồng = 5.630.137 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
Khoản vay 2: Ngày 04/5/2024, chị H2 vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 50 ngày, T cắt lãi trước 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tương đương với lãi suất 102,2%/năm - Cao gấp 5,11 lần lãi suất cao nhất được hưởng của Bộ luật Dân sự. Chị H2 nhận được số tiền vay là 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) sau khi đã trả cho T số tiền lãi 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tiền gốc 01 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Đến nay, tiền gốc khoản vay chị H2 đã trả hết cho T.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 50 ngày = 1.369.863 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.000.000 đồng – 1.369.863 đồng = 5.630.137 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
Khoản vay 3: Ngày 02/6/2024, chị H2 vay T số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), thời gian vay 50 ngày, T cắt lãi trước 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), tương đương với lãi suất 109,5%/năm - Cao gấp 5,48 lần lãi suất cao nhất được hưởng của Bộ luật Dân sự. Chị H2 nhận được số tiền vay là 83.000.000 đồng (Tám mươi ba triệu đồng) sau khi đã trả cho T số tiền lãi 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), tiền gốc 01 ngày là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Đến nay, tiền gốc khoản vay chị H2 đã trả hết cho T.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (100.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 50 ngày = 2.739.726 đồng (Hai triệu bảy trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm hai mươi sáu đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 15.000.000 đồng - 2.739.726 đồng = 12.260.274 đồng (Mười hai triệu hai trăm sáu mươi nghìn hai trăm bảy mươi tư đồng).
Khoản vay 4: Ngày 22/6/2024, chị H2 vay T số tiền 50.000.000 đồng, thời gian vay 50 ngày, T cắt lãi trước 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tương đương với lãi suất 102,2%/năm - Cao gấp 5,11 lần lãi suất cao nhất được hưởng của Bộ luật Dân sự. Chị H2 nhận được số tiền vay là 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) sau khi đã trả cho T số tiền lãi 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tiền gốc 01 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Đến nay, tiền gốc khoản vay chị H2 đã trả hết cho T.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 50 ngày = 1.369.863 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.000.000 đồng – 1.369.863 đồng = 5.630.137 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
Khoản vay 5: Ngày 10/8/2024, chị H2 vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 50 ngày, T cắt lãi trước 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tương đương với lãi suất 102,2%/năm - Cao gấp 5,11 lần lãi suất cao nhất được hưởng của Bộ luật Dân sự. Chị H2 nhận được số tiền vay là 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) sau khi đã trả cho T số tiền lãi 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tiền gốc 01 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Đến nay, tiền gốc khoản vay chị H2 đã trả hết cho T.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 50 ngày = 1.369.863 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.000.000 đồng – 1.369.863 đồng = 5.630.137 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
Khoản vay 6: Ngày 29/08/2024, chị H2 vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 50 ngày, T cắt lãi trước 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tương đương với lãi suất 102,2%/năm - Cao gấp 5,11 lần lãi suất cao nhất được hưởng của Bộ luật Dân sự. Chị H2 nhận được số tiền vay là 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) sau khi đã trả cho T số tiền lãi 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tiền gốc 01 ngày là 1.00.000 đồng (Một triệu đồng). Đến nay, tiền gốc khoản vay chị H2 đã trả hết cho T.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 50 ngày = 1.369.863 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.000.000 đồng – 1.369.863 đồng = 5.630.137 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
Khoản vay 7: Ngày 09/9/2024, chị H2 vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 50 ngày, T cắt lãi trước 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tương đương với lãi suất 102,2%/năm - Cao gấp 5,11 lần lãi suất cao nhất được hưởng của Bộ luật Dân sự. Chị H2 nhận được số tiền vay là 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) sau khi đã trả cho T số tiền lãi 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tiền gốc 01 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Đến nay, tiền gốc khoản vay chị H2 đã trả hết cho T.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 50 ngày = 1.369.863 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.000.000 đồng – 1.369.863 đồng = 5.630.137 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
Khoản vay 8: Ngày 29/9/2024, chị H2 vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 50 ngày, T cắt lãi trước 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tương đương với lãi suất 102,2%/năm - Cao gấp 5,11 lần lãi suất cao nhất được hưởng của Bộ luật Dân sự. Chị H2 nhận được số tiền vay là 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) sau khi đã trả cho T số tiền lãi 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tiền gốc 01 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Đến nay, tiền gốc khoản vay chị H2 đã trả hết cho T.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 50 ngày = 1.369.863 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.000.000 đồng – 1.369.863 đồng = 5.630.137 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
Khoản vay 9: Ngày 18/10/2024, chị H2 vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 50 ngày, T cắt lãi trước 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tương đương với lãi suất 102,2%/năm - Cao gấp 5,11 lần lãi suất cao nhất được hưởng của Bộ luật Dân sự. Chị H2 nhận được số tiền vay là 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) sau khi đã trả cho T số tiền lãi 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tiền gốc 01 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Đến nay, tiền gốc khoản vay chị H2 đã trả hết cho T.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 50 ngày = 1.369.863 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.000.000 đồng – 1.369.863 đồng = 5.630.137 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
Khoản vay 10: Ngày 29/10/2024, chị H2 vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 50 ngày, T cắt lãi trước 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tương đương với lãi suất 102,2%/năm - Cao gấp 5,11 lần lãi suất cao nhất được hưởng của Bộ luật Dân sự. Chị H2 nhận được số tiền vay là 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) sau khi đã trả cho T số tiền lãi 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tiền gốc 01 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Đến nay, tiền gốc khoản vay chị H2 đã trả hết cho T.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 50 ngày = 1.369.863 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.000.000 đồng – 1.369.863 đồng = 5.630.137 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
Khoản vay 11: Ngày 02/12/2024, chị H2 vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 50 ngày, T cắt lãi trước 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tương đương với lãi suất 102,2%/năm - Cao gấp 5,11 lần lãi suất cao nhất được hưởng của Bộ luật Dân sự. Chị H2 nhận được số tiền vay là 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) sau khi đã trả cho T số tiền lãi 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), tiền gốc 01 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Đến nay, tiền gốc khoản vay chị H2 đã trả hết cho T.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 50 ngày = 1.369.863 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.000.000 đồng – 1.369.863 đồng = 5.630.137 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
Như vậy, tổng số tiền T cho chị H2 vay là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng), chị H2 đã trả cho T tiền gốc là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) và tiền lãi là 85.000.000 đồng (T3 mươi lăm triệu đồng). Trong đó, số tiền lãi theo quy định T được hưởng là 16.438.356 đồng (Mười sáu triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn ba trăm năm sáu đồng), tiền T hưởng lãi suất quá quy định và thu lợi bất chính là 68.561.644 đồng (Sáu mươi tám triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi bốn đồng).
2. Chị Nguyễn Thị H1 vay Huỳnh Thị T 02 lần cụ thể như sau:
Khoản vay 1: Ngày 26/4/2024, chị H1 vay T số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), thời gian vay 40 ngày, T cắt lãi trước 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng), tương đương với lãi suất 109,5%/năm - Cao gấp 5,48 lần lãi suất cao nhất được hưởng của Bộ luật Dân sự. Chị H1 nhận được số tiền vay là 85.500.000 đồng (T3 mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng) sau khi đã trả cho T số tiền lãi 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng), tiền gốc 01 ngày là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Hiện, chị H1 đã trả cho T 66.500.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng) tiền gốc và còn nợ T số tiền gốc là 33.500.000 đồng (Ba mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (100.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 40 ngày = 2.191.781 đồng (Hai triệu một trăm chín mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 12.000.000 đồng - 2.191.781 đồng = 9.808.219 đồng (Chín triệu tám trăm linh tám nghìn hai trăm mười chín đồng).
Khoản vay 2: Ngày 04/5/2024, chị H1 vay T số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), thời gian vay 33 ngày, T cắt lãi trước 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), tương đương với lãi suất 110,6%/năm - Cao gấp 5,53 lần lãi suất cao nhất được hưởng của Bộ luật Dân sự. H1 nhận được số tiền vay là 87.000.000 đồng (Tám mươi bảy triệu đồng) sau khi đã trả cho T số tiền lãi 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), tiền gốc 01 ngày là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Hiện, chị H1 đã trả cho T 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) tiền gốc và còn nợ T số tiền gốc là 58.000.000 đồng (năm mươi tám triệu đồng).
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (100.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 33 ngày = 1.808.219 đồng (Một triệu tám trăm linh tám nghìn hai trăm mười chín đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 10.000.000 đồng – 1.808.219 đồng = 8.191.781 đồng (Tám triệu một trăm chín mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng).
Như vậy, tổng số tiền T cho chị H1 vay là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), chị H1 đã trả cho T tiền gốc là 108.500.000 đồng (Một trăm linh tám triệu năm trăm nghìn đồng) và tiền lãi là 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng). Trong đó, số tiền lãi theo quy định T được hưởng là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), tiền T hưởng lãi suất quá quy định và thu lợi bất chính là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng). Hiện số tiền vay gốc chị H1 còn nợ T là 91.500.000 đồng (Chín mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).
3. Chị Nguyễn Thị N vay Huỳnh Thị T 10 lần cụ thể như sau:
Khoản vay 1: Ngày 22/04/2024, chị N vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 40 ngày, lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương 109.5%/năm (cao gấp 5,48 lần lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự). Chị N nhận được số tiền vay là 48.800.000 đồng (Bốn mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng) sau khi đã trả cho T tiền gốc 01 ngày là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Khoản vay này chị N đã trả cho T toàn bộ tiền gốc là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tiền lãi.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 40 ngày = 1.095.890 đồng (Một triệu không trăm chín mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 6.000.000 đồng – 1.095.890 đồng = 4.904.110 đồng (Bốn triệu chín trăm linh bốn nghìn một trăm mười đồng).
Khoản vay 2: Ngày 03/5/2024, chị N vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 50 ngày, lãi suất 2.800 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương 102,2%/năm (cao gấp 5,11 lần lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự). Chị N nhận được số tiền vay là 49.000.000 đồng (Bốn mươi chín triệu đồng) sau khi đã trả cho T tiền gốc 01 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Khoản vay này chị N đã trả cho T toàn bộ tiền gốc là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) tiền lãi.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 50 ngày = 1.369.863 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.000.000 đồng – 1.369.863 đồng = 5.630.137 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
Khoản vay 3: Ngày 26/05/2024, chị N vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 40 ngày, lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương 109.5%/năm (cao gấp 5,48 lần lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự). Chị N nhận được số tiền vay là 48.800.000 đồng (Bốn mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng) sau khi đã trả cho T tiền gốc 01 ngày là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Khoản vay này, chị N đã trả cho T toàn bộ tiền gốc là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tiền lãi.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 40 ngày = 1.095.890 đồng (Một triệu không trăm chín mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 6.000.000 đồng – 1.095.890 đồng = 4.904.110 đồng (Bốn triệu chín trăm linh bốn nghìn một trăm mười đồng).
Khoản vay 4: Ngày 15/6/2024, chị N vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 50 ngày, lãi suất 2.800 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương 102,2%/năm (cao gấp 5,11 lần lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự). Chị N nhận được số tiền vay là 49.000.000 đồng (Bốn mươi chín triệu đồng) sau khi đã trả cho T tiền gốc 01 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Khoản vay này, chị N đã trả cho T toàn bộ tiền gốc là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) tiền lãi.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 50 ngày = 1.369.863 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.000.000 đồng – 1.369.863 đồng = 5.630.137 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
Khoản vay 5: Ngày 30/06/2024, chị N vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 40 ngày, lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương 109.5%/năm (cao gấp 5,48 lần lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự). Chị N nhận được số tiền vay là 48.800.000 đồng (Bốn tám triệu tám trăm nghìn đồng) sau khi đã trả cho T tiền gốc 01 ngày là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Khoản vay này, chị N đã trả cho T toàn bộ tiền gốc là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tiền lãi.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 40 ngày = 1.095.890 đồng (Một triệu không trăm chín mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 6.000.000 đồng – 1.095.890 đồng = 4.904.110 đồng (Bốn triệu chín trăm linh bốn nghìn một trăm mười đồng).
Khoản vay 6: Ngày 16/7/2024, chị N vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 50 ngày, lãi suất 2.800 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương 102,2%/năm (cao gấp 5,11 lần lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự). Chị N nhận được số tiền vay là 49.000.000 đồng (Bốn mươi chín triệu đồng) sau khi đã trả cho T tiền gốc 01 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Khoản vay này, chị N đã trả cho T toàn bộ tiền gốc là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) tiền lãi.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 50 ngày = 1.369.863 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.000.000 đồng – 1.369.863 đồng = 5.630.137 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
Khoản vay 7: Ngày 22/8/2024, chị N vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 40 ngày, lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương 109.5%/năm (cao gấp 5,48 lần lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự). Chị N nhận được số tiền vay là 48.800.000 đồng (Bốn mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng) sau khi đã trả cho T tiền gốc 01 ngày là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Khoản vay này chị N đã trả cho T toàn bộ tiền gốc là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tiền lãi.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 40 ngày = 1.095.890 đồng (Một triệu không trăm chín mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 6.000.000 đồng – 1.095.890 đồng = 4.904.110 đồng (Bốn triệu chín trăm linh bốn nghìn một trăm mười đồng).
Khoản vay 8: Ngày 26/8/2024, chị N vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 50 ngày, lãi suất 2.800 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương 102,2%/năm (cao gấp 5,11 lần lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự). Chị N nhận được số tiền vay là 49.000.000 đồng (Bốn mươi chín triệu đồng) sau khi đã trả cho T tiền gốc 01 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Khoản vay này, chị N đã trả cho T toàn bộ tiền gốc là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) tiền lãi.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 50 ngày = 1.369.863 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.000.000 đồng – 1.369.863 đồng = 5.630.137 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
Khoản vay 9: Ngày 02/10/2024, chị N vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 40 ngày, lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương 109.5%/năm (cao gấp 5,48 lần lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự). Chị N nhận được số tiền vay là 48.800.000 đồng (Bốn mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng) sau khi đã trả cho T tiền gốc 01 ngày là 1.200.000 đồng. Khoản vay này, chị N đã trả cho T toàn bộ tiền gốc là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tiền lãi.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 40 ngày = 1.095.890 đồng (Một triệu không trăm chín mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 6.000.000 đồng – 1.095.890 đồng = 4.904.110 đồng (Bốn triệu chín trăm linh bốn nghìn một trăm mười đồng).
Khoản vay 10: Ngày 09/10/2024, chị N vay T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời gian vay 50 ngày, lãi suất 2.800 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương 102,2%/năm (cao gấp 5,11 lần lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự). Chị N nhận được số tiền vay là 49.000.000 đồng (Bốn mươi chín triệu đồng) sau khi đã trả cho T tiền gốc 01 ngày là 1.000.000 đồng. Khoản vay này chị N đã trả cho T toàn bộ tiền gốc là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) tiền lãi.
Khoản vay này, T được hưởng số tiền lãi theo quy định là (50.000.000 đồng x 20%/năm ÷ 365 ngày) x 50 ngày = 1.369.863 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng). Thái hưởng lãi suất vượt quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.000.000 đồng – 1.369.863 đồng = 5.630.137 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
Như vậy, tổng số tiền T cho chị N vay là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), chị N đã trả cho T tiền gốc là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và tiền lãi là 65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng). Trong đó, số tiền lãi theo quy định T được hưởng là 12.328.767 đồng (Mười hai triệu ba trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm sáu mươi bảy đồng); tiền T hưởng lãi suất quá quy định và thu lợi bất chính là 52.671.233 đồng (Năm mươi hai triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm ba mươi ba đồng).
Về vật chứng:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G, vỏ màu đen, bên trong lắp sim số điện thoại 0982.522.xxx, số imei: 358589298294760 (Đã qua sử dụng) và 01 (một) điện thoại di động Iphone 11, vỏ màu đỏ, bên trong lắp sim số điện thoại 0963.562.xxx, số imei: 355435976241272 (Đã qua sử dụng). Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- 05 (năm) tờ giấy A4 có ghi chép danh sách, lịch sử các khoản vay, vật chứng hiện đang lưu cùng hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 106/CT-VKS-TPV ngày 26/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị Thái về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như tại Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Khoản 2 Điều 201; điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị T từ 250.000.000 đồng – 300.000.000 đồng. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G, vỏ màu đen, bên trong lắp sim số điện thoại 0982.522.xxx, số imei: 358589298294760 (đã qua sử dụng) và 01 (một) điện thoại di động Iphone 11, vỏ màu đỏ, bên trong lắp sim số điện thoại 0963.562.xxx, số imei: 355435976241272 (đã qua sử dụng). Đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước. Hiện vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
+ Truy thu sung quỹ nhà nước tại bị cáo Huỳnh Thị T: 1.208.500.000 đồng (một tỷ hai trăm linh tám triệu năm trăm ngàn đồng) số tiền gốc cho vay đã thu hồi là công cụ, phương tiện phạm tội và 32.767.123 đồng (ba mươi hai triệu bảy trăm sáu mươi bảy ngàn một trăm hai mươi ba đồng) số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là khoản tiền phát sinh từ tội phạm.
+ Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền gốc là phương tiện phạm tội bị cáo cho vay đang có tại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Hằng S tiền là: 91.500.000 đồng.
+ Đối với số tiền đã thu lợi bất chính buộc bị cáo phải trả lại cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm: Chị Đỗ Thị H2: 68.561.644 đồng; chị Nguyễn Thị H1: 18.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị N: 52.671.233 đồng. Tuy nhiên trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo T đã tự nguyện trả lại số tiền trên cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người này cũng không có yêu cầu gì nên miễn xét.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, các bản Sao kê tài khoản ngân hàng, các bản trích sao dữ liệu trên điện thoại di động, vật chứng đã được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Trong thời gian từ tháng 4/2024 đến tháng 12/2024, tại thành phố V, tỉnh Nghệ An, Huỳnh Thị T có hành vi sử dụng số tiền 1.300.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm triệu đồng) cho 03 người gồm chị Nguyễn Thị H1, Đỗ Thị H2, Nguyễn Thị N vay lãi nặng với lãi suất từ 102,2%/năm đến 110,6%/năm (Cao gấp 5,11 lần đến 5,53 lần so với mức lãi suất cao nhất của Bộ luật Dân sự) nhằm thu lợi bất chính số tiền 139.232.877 đồng (Một trăm ba mươi chín triệu hai trăm ba mươi hai nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng). Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2]. Xét hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người vay tài sản, gây dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo hiểu được hành vi cho vay lãi nặng với mức lãi suất cao gấp 05 lần trở lên so với mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Bộ Luật dân sự là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm bị cáo để giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.
[2.3]. Xem xét các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện trả lại cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan số tiền thu lợi bất chính; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Ngoài ra gia đình bị cáo có người thân là người có công với cách mạng, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và có thu nhập ổn định. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà căn cứ Điều 35 của Bộ luật hình sự quy định về hình phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện VKS cũng đủ nghiêm.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[2.4]. Trong vụ án này, ông Hoàng Khắc T2 là chồng bị cáo, quá trình điều tra xác định ông T2 cho T mượn tài khoản ngân hàng để thực hiện các giao dịch nhận tiền lãi, gốc hàng ngày từ người vay tiền. Tuy nhiên, ông T2 không biết việc T sử dụng tài khoản ngân hàng của mình để thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nên hành vi của ông T2 không đủ cơ sở để xử lý hình sự.
[2.5]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G, vỏ màu đen, bên trong lắp sim số điện thoại 0982.522.xxx, số imei: 358589298294760 (Đã qua sử dụng) và 01 (một) điện thoại di động Iphone 11, vỏ màu đỏ, bên trong lắp sim số điện thoại 0963.562.xxx, số imei: 355435976241272 (Đã qua sử dụng). Đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Đối với 05 (năm) tờ giấy A4 có ghi chép danh sách, lịch sử các khoản vay hiện có tại hồ sơ nên cần lưu tại hồ sơ vụ án.
Đối với số tiền vay gốc 1.208.500.000 đồng (một tỷ hai trăm linh tám triệu năm trăm ngàn đồng) mà bị cáo Huỳnh Thị T đã thu hồi từ người vay là phương tiện phạm tội và số tiền lãi và 32.767.123 đồng (ba mươi hai triệu bảy trăm sáu mươi bảy ngàn một trăm hai mươi ba đồng) số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là khoản tiền phát sinh từ việc phạm tội nên cần truy thu sung quỹ nhà nước toàn bộ số tiền trên tại bị cáo T.
Đối với số tiền 91.500.000 đồng (chín mươi mốt triệu năm trăm ngàn đồng) là tiền vay gốc còn lại mà chị Nguyễn Thị H1 chưa trả được cho bị cáo, đây là số tiền liên quan đến việc phạm tội nên cần truy thu tại chị Nguyễn Thị H1 để sung quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, đối với khoản tiền lãi trên mức lãi suất 20%/năm là khoản tiền bị cáo thu lợi bất chính từ những người vay nên cần buộc bị cáo phải trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Chị Đỗ Thị H2 68.561.644 đồng; chị Nguyễn Thị H1 18.000.000 đồng và chị Nguyễn Thị N 52.671.233 đồng. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo đã tự nguyện trả lại số tiền này cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nói trên, những người trên đều đã nhận lại số tiền này và không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
[3]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ: Khoản 2 Điều 201; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị T số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G màu đen gắn 01 thẻ sim số Imei: 358589298294760 đã qua sử dụng, và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ gắn 01 thẻ sim, số Imei: 355435976241272 đã qua sử dụng. (Số vật chứng này hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho số NK 2025/125 ngày 25/02/2025).
- Truy thu sung quỹ nhà nước tại bị cáo Huỳnh Thị T: 1.208.500.000 đồng (một tỷ hai trăm linh tám triệu năm trăm ngàn đồng) là số tiền gốc cho vay và 32.767.123 đồng (ba mươi hai triệu bảy trăm sáu mươi bảy ngàn một trăm hai mươi ba đồng) số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm. Tổng cộng 1.241.267.123 đồng (một tỷ hai trăm bốn mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi bảy ngàn một trăm hai mươi ba đồng).
- Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền gốc tại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Hằng S tiền: 91.500.000 đồng (chín mươi mốt triệu năm trăm ngàn đồng).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Huỳnh Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Ngô Thị Minh |
Bản án số 93/2025/HSST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 93/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị T phạm tội " cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"
