|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 93/2025/HSST. Ngày: 17/03/2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Văn Lương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lù Văn Lả.
2. Ông Cà Văn Danh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 113/2025/TLST - HS ngày 25/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST - HS, ngày 06/03/2025 đối với bị cáo.
Họ và tên: Bùi Văn T, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1960, tại Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn P, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 4/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn B, (đã chết) và bà: Khúc Thị H, (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1959 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1986, con nhỏ sinh năm 1988. Tiền án: Không; tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 24/10/2004 bị Công an phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 18/11/2004 bị Công an thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi gây rối trật tự công cộng. Đến nay được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Ngày 27/9/2005 bị TAND thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã được xóa án tích; Ngày 19/10/2006 bị TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 09 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Đã được xóa án tích; Ngày 16/6/2015 bị TAND thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã được xóa án tích; Ngày 27/02/2020 bị TAND thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, ngày 02/3/2022 chấp hành xong. Đến nay được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2025 đến nay "Có mặt tại phiên tòa".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/01/2025, bị cáo đi xe máy (không có biển kiểm soát) từ thôn B, xã N, huyện Đ mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến đoạn đường thuộc bản X, xã T, huyện Đ bị cáo gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc T2 khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng. Mua xong, bị cáo cầm gói Heroine trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm chỗ sử dụng. Hồi 12 giờ 50 phút cùng ngày, khi bị cáo đang điều khiển xe trên quốc lộ B thuộc thôn B, xã N, huyện Đ thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại tay trái bị cáo 01 gói ni lon màu xanh bên trong chứa 0,24 gam Heroine.
Vật chứng thu giữ gồm 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa các cục H1 và 01 chiếc xe mô không có nhãn hiệu, loại xe; màu Trắng, số khung: C70-6141927, số máy: VDECPL152FMH004587, xe đã cũ, đã qua sử dụng.
Ngày 15/01/2025 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Bùi Văn T như sau: Số cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng là: 0,24 gam gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số 105/KL-KTHS ngày 20/01/2025 của phòng K, Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Khối lượng vật chứng: 0,16gam. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, vật chứng hoàn lại sau giám định là 0,15 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định nêu trên. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số: 48/CT-VKSHĐB ngày 24/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS, Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS; Điều 38/BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,15 gam Heroine hoàn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu xanh; Đối với chiếc xe mô không có nhãn hiệu, loại xe; màu Trắng, số khung: C70-6141927, số máy: VDECPL152FMH004587, xe đã cũ, đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo được miễn án phí HSST.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và Luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo vài xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 12 giờ 50 ngày 15/01/2025 bị cáo xe máy (không có biển kiểm soát) đi mua ma túy, khi bị cáo đang trên đường về thì bị bắt quả tang 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 0,24 gam Heroine mục đích sử dụng cho bản thân. Với hành vi và khối lượng ma túy bị thu giữ thì bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
c)....Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".
Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, không bị oan sai.
[2]. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội; đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì, ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Ngày 24/10/2004 bị Công an phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 18/11/2004 bị Công an thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi gây rối trật tự công cộng; Ngày 27/02/2020 bị TAND thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, ngày 02/3/2022 chấp hành xong. Đến nay được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Ngày 27/9/2005 bị TAND thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 19/10/2006 bị TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 09 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Ngày 16/6/2015 bị TAND thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, các bản án trên đã được xóa án tích nhưng bị cáo có nhân thân xấu.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS.
Để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, cần chấp nhận.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Vật chứng: 0,24 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ (hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 0,15 gam) và 01 mảnh nilon màu xanh cần tịch thu tiêu hủy; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước chiếc xe mô không có nhãn hiệu, loại xe; màu Trắng, số khung: C70-6141927, số máy: VDECPL152FMH004587, xe đã cũ, đã qua sử dụng theo quy định tại Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS .
[6]. Các vấn đề khác: Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ có được là do bị cáo mua của người đàn ông dân tộc Thái, do bị cáo không biết tên và địa chỉ nên CQĐT không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ được. Do vậy HĐXX không có cơ sở xem xét trong vụ án.
Đối với chiếc xe mô không có nhãn hiệu, loại xe; màu Trắng, số khung: C70-6141927, số máy: VDECPL152FMH004587, xe đã cũ, đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8]. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS; Điều 38/BLHS.
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 15/01/2025.
- Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí HSST.
- Về vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 0,24 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ (hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 0,15 gam) và 01 mảnh nilon màu xanh. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước chiếc xe mô không có nhãn hiệu, loại xe; màu Trắng, số khung: C70-6141927, số máy: VDECPL152FMH004587, xe đã cũ, đã qua sử dụng.
(Vật chứng đã được công an huyện Đ chuyển cho chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên ngày 24/02/2025).
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333/BLTTHS; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Lương. |
Bản án số 93/2025/HSST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 93/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo T 01 năm 06 tháng tù
