|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 93/2025/HS-ST.
Ngày: 18/02/2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Vân
Ông Trịnh Xuân Tính
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.
- Đại diên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Kim D - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 118/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2025/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo: Trịnh Quang L, Sinh năm: 1991; số CCCD: [...]; nơi cư trú: S đường T, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông: Trịnh Quang B; con bà Nguyễn Thị T; vợ chưa; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: 16/12/2024 đến ngày 25/12/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Nguyễn Thị Hồng N - Sinh năm 1984. (Vắng mặt)
- Chị Trịnh Thị Xuân T1 - Sinh năm 1990. (Vắng mặt)
- Chị Đỗ Ngọc A - Sinh năm 1989. (Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị T2 - Sinh năm 1994. (Vắng mặt)
- Chị Mai Thị T3 - Sinh năm 1992 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: S N, phường Đ, thành phố T.
Nơi ở hiện tại: SN A đường P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: SN A đường L, phường B, thành phố T.
Nơi cư trú: B Đại lộ L, phường Đ, thành phố T.
Nơi cư trú: S phố Đ, phường Đ, thành phố T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mục đích vụ lợi, nên trong khoảng thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2024, Trịnh Quang L đã cho 05 người dân trên địa bàn thành phố T vay thăm với lãi suất từ 4000 đồng đến 11.765 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương với lãi suất từ 146%/ năm đến 429,71%/năm, gấp 7,3 đến 21,5 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự và nhằm thu lời bất chính 40.233.326 đồng, cụ thể L đã cho vay như sau:
- Chị Nguyễn Thị Hồng N sinh năm 1984 trú tại 0 N, phường Đ, thành phố T có vay thăm 02 lần cụ thể:.
- Lần 1: Ngày 17/10/2024, L cho chị N vay 15.000.000 đồng, L cắt trước lãi 3.000.000 đồng, đưa cho chị N 12.000.000 đồng, L yêu cầu chị N phải trả góp số tiền gốc trong vòng 50 ngày, mỗi ngày thu 300.000 đồng. Gói vay này L đã thu 3.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 246.575 đồng, thu lợi bất chính 2.753.425 đồng.
- Lần 2: Ngày 15/11/2024, L cho chị N vay 15.000.000 đồng, do gói 1 chị N mới trả được 30 ngày, còn nợ 20 ngày đóng thăm (tương ứng số tiền 6.000.000 đồng) nên L trừ tiền nợ gốc của gói thăm trước 6.000.000 đồng và 3.000.000 đồng tiền lãi của gói mới tổng 9.000.000 đồng, chuyển cho chị N 6.000.000 đồng. L yêu cầu chị N đóng trả góp gốc trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 300.000 đồng. Gói vay này L đã thu 3.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 263.014 đồng, thu lợi bất chính 2.736.986 đồng.
Như vậy, từ ngày 15/11/2024 đến 16/12/2024, L cho chị N vay 30.000.000 đồng (thực tế tiền cho vay là 15.000.000 đồng) với lãi suất từ 6.250 đến 6.667 đồng/01 triệu/01 ngày tương đương với 228,13%/năm đến 243,33%/năm gấp 11,4 đến 12,16 lần mức lãi cao nhất do Bộ luật dân sự quy định. Tổng tiền lãi đã thu là 6.000.000 đồng (lãi trong quy định 509.589 đồng, thu lời bất chính 5.490.411 đồng. Đến nay, chị N còn nợ L 15.000.000 đồng (tiền gốc của gói thứ 2).
- Chị Trịnh Thị Xuân T1 sinh năm 1990 trú tại 12 P, phường T, thành phố T vay thăm 03 lần cụ thể:
- Lần 1: Ngày 16/09/2024, L cho chị T1 vay 15.000.000 đồng, L cắt trước lãi 3.000.000 đồng đưa cho chị T1 12.000.000 đồng, L yêu cầu chị T1 phải trả góp số tiền gốc trong vòng 50 ngày, mỗi ngày L thu 300.000 đồng. Gói vay này L đã thu 3.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 320.548 đồng, thu lợi bất chính 2.679.452 đồng.
- Lần 2: Ngày 24/10/2024, L cho chị T1 vay 15.000.000 đồng, do gói 1 chị N mới trả được 39 ngày, còn nợ 11 ngày đóng thăm (tương ứng số tiền 3.300.000 đồng) nên L trừ tiền nợ gốc của gói thăm trước 3.300.000 đồng và 3.000.000 đồng tiền lãi của gói mới rồi chuyển cho chị N 8.400.000 đồng. L yêu cầu chị N đóng trả góp gốc trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 300.000 đồng. Gói vay này L đã thu 3.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 254.795 đồng, thu lợi bất chính 2.745.205 đồng.
- Lần 3: Ngày 23/11/2024, L cho chị T1 vay 15.000.000 đồng, do chị T1 đang còn nợ 19 ngày tiền gốc của gói 2 (tương ứng 5.700.000 đồng) nên L trừ tiền gốc chị T1 còn nợ của gói 2 là 5.700.000 đồng và 3.000.000 đồng tiền lãi của gói thứ 3, L chuyển cho chị T1 6.300.000 đồng. L yêu cầu chị T1 trả góp số tiền gốc vay trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 300.000 đồng. Gói vay này L đã thu 3.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 197.260 đồng, thu lợi bất chính 2.802.740 đồng.
Như vậy, từ ngày 16/9/2024 đến 16/12/2024, L cho chị T1 vay 45.000.000 đồng (thực tế tiền cho vay là 15.000.000 đồng) với lãi suất từ 5.128 đến 8.333 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương với từ 187,18%/năm đến 304,17%/năm, gấp 11,4 đến 12,16 lần mức lãi cao nhất do Bộ luật dân sự quy định. Tổng tiền lãi đã thu là 9.000.000 đồng (lãi suất theo quy định là 772.603 đồng, thu lời bất chính 8.227.397 đồng). Chị T1 còn nợ 15.000.000 đồng (tiền gốc của lần 3).
- Chị Đỗ Ngọc A sinh năm 1989 trú tại A L, phường B, thành phố T vay thăm 04 lần. Cụ thể:
- Lần 1: Ngày 25/7/2024, L cho chị Ngọc A vay 15.000.000 đồng, L cắt trước lãi 3.000.000 đồng đưa cho chị Ngọc A 12.000.000 đồng, L yêu cầu chị Ngọc A phải trả góp số tiền gốc trong vòng 50 ngày, mỗi ngày thu 300.000 đồng. Gói vay này L đã thu 3.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 312.329 đồng, thu lợi bất chính 2.687.671 đồng.
- Lần 2: Ngày 31/8/2024, L cho chị Ngọc A vay 15.000.000 đồng, do gói 1 chị Ngọc A mới trả được 38 ngày, còn nợ 12 ngày đóng thăm nên L trừ tiền nợ gốc của gói trước là 3.600.000 đồng và 3.000.000 đồng tiền lãi của gói mới, chuyển cho chị Ngọc A 8.400.000 đồng. L yêu cầu chị Ngọc A đóng trả góp gốc trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 300.000 đồng. Gói vay này L đã thu 3.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 238.356 đồng, thu lợi bất chính 2.761.644 đồng.
- Lần 3: Ngày 28/9/2024, L cho chị Ngọc A vay 15.000.000 đồng, do gói thứ 2 chị Ngọc A đang còn nợ 21 ngày thăm nên khi cho vay L trừ 6.300.000 đồng tiền gốc của gói 2 và 3.000.000 đồng tiền lãi của gói 3, chuyển cho chị Ngọc A 5.700.000 đồng. L yêu cầu chị Ngọc A trả góp gốc trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 300.000 đồng. Gói vay này L đã thu 3.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 139.726 đồng, thu lợi bất chính 2.860.274 đồng.
- Lần 4: Ngày 14/10/2024, L cho chị Ngọc A vay 15.000.000 đồng, do gói vay thứ 3 chị Ngọc A đang còn nợ 33 ngày tiền thăm (tương ứng 9.900.000 đồng) nên khi cho vay L đã trừ 9.900.000 đồng tiền gốc của gói 3 và 3.000.000 đồng tiền lãi của gói 4, chuyển cho chị Ngọc A 2.100.000 đồng. Gói vay này L đã thu 3.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 410.959 đồng, thu lợi bất chính 2.589.041 đồng.
Như vậy, từ ngày 25/7/2024 đến 16/12/2024, L cho chị A vay 60.000.000 đồng (thực tế tiền cho vay là 15.000.000 đồng) với lãi suất từ 4000 đến 11.765 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương từ 146%/năm đến 429.41%/năm, gấp từ 7.3 đến 21.5 lần mức lãi cao nhất do Bộ luật dân sự quy định. Tổng tiền lãi đã thu của chị Ngọc A là 12.000.000 đồng (lãi thu theo quy định: 1.101.370 đồng, thu lời bất chính: 10.898.630 đ). Hiện chị Ngọc A còn nợ 15.000.000 đồng (tiền gốc lần 4).
- Chị Nguyễn Thị Thủy S năm 1994 (ở quán V phường Đ, thành phố T) vay thăm 05 lần. Cụ thế:
- Lần 1: Giữa tháng 01/2024, L cho chị T1 vay 15.000.000 đồng, khi cho vay L cắt trước 3.000.000 đồng tiền lãi, đưa cho chị T1 12.000.000 đồng, L yêu cầu chị T1 trả góp trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 300.000 đồng. Gói vay này L đã thu 3.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 410.959 đồng, thu lợi bất chính là 2.589.041 đồng.
- Lần 2: Giữa tháng 04/2024, L cho chị T1 vay 15.000.000 đồng, khi cho vay L cắt trước 3.000.000 đồng tiền lãi, đưa cho chị T1 12.000.000 đồng, L yêu cầu chị T1 trả góp trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 300.000 đồng. Gói vay này L đã thu 3.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 410.959 đồng, thu lợi bất chính là 2.589.041 đồng.
- Lần 3: Tháng 06/2024, L cho chị T1 vay 10.000.000 đồng, khi cho vay L cắt trước 2.000.000 đồng tiền lãi, đưa cho chị T1 8.000.000 đồng, L yêu cầu chị T1 trả góp trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng. Gói vay này L đã thu 2.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 273.973 đồng, thu lợi bất chính 1.726.027 đồng.
- Lần 4: Tháng 8/2024, L cho chị T1 vay 10.000.000 đồng, khi cho vay L cắt trước 2.000.000 đồng tiền lãi, đưa cho chị T1 8.000.000 đồng, L yêu cầu chị T1 trả góp trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng. Gói vay này L đã thu 2.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 273.973 đồng, thu lợi bất chính 1.726.027 đồng.
- Lần 5: Đầu tháng 10/2024, L cho chị T1 vay 10.000.000 đồng, khi cho vay L cắt trước 2.000.000 đồng tiền lãi, đưa cho chị T1 8.000.000 đồng, L yêu cầu chị T1 trả góp trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng. Gói vay này L đã thu 2.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 273.973 đồng, thu lợi bất chính 1.726.027 đồng.
Như vậy, từ giữa tháng 01/2024 đến ngày 16/12/2024, L cho chị T1 vay 05 lần tổng là 60.000.000 đồng (tiền cho vay thực tế là 15.000.000 đồng). với lãi suất từ 4000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương từ 146%/năm gấp 7.3 lần mức lãi cao nhất do Bộ luật dân sự quy định. Tổng tiền lãi đã thu 12.000.000 đồng (lãi thu theo quy định: 1.643.836 đồng, thu lời bất chính: 10.356.164 đồng). Hiện chị T1 đã trả hết cả gốc và lãi cho L.
- Chị Mai Thị T3 sinh năm 1992 trú tại nhà ở Đ, phường Đ, thành phố T vay thăm 03 lần. Cụ thể:
- Lần 1: Ngày 29/6/2024, L cho chị T3 vay 10.000.000 đồng, khi cho vay L cắt trước 2.000.000 đồng tiền lãi, đưa cho chị T3 8.000.000 đồng, L yêu cầu chị T3 trả góp trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng. Gói vay này L đã thu 2.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 235.616 đồng, thu lợi bất chính 1.764.384 đồng.
- Lần 2: Ngày 10/8/2024, L cho chị T3 vay 10.000.000 đồng, do gói vay 1 chị T3 mới trả được 43 ngày thăm còn nợ 7 ngày (tương ứng 1.400.000 đồng) nên L trừ 1.400.000 đồng còn nợ của gói 1 và 2.000.000 đồng tiền lãi của gói mới (tổng 3.400.000 đồng), đưa cho chị T3 6.600.000 đồng, L yêu cầu chị T3 trả góp trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng. Gói vay này L đã thu 2.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 230.137 đồng, thu lợi bất chính 1.769.863 đồng.
- Lần 3: Ngày 20/9/2024, L cho chị T3 vay 10.000.000 đồng, do gói thứ 2 chị T3 mới trả được 42 ngày thăm còn nợ 8 ngày (tương ứng 1.600.000 đồng) nên L trừ đi 08 ngày còn nợ của gói 2 và 2.000.000 đồng tiền lãi của gói mới (tương ứng 3.600.000 đồng), đưa cho chị T3 6.400.000 đồng, L yêu cầu chị T3 trả góp trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng. Gói vay này L đã thu 2.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi được phép thu theo quy định 273.973 đồng, thu lợi bất chính 1.726.027 đồng.
Như vậy, từ ngày 29/6/2024 đến 16/12/2024 L cho chị T3 vay 30.000.000 đồng (thực tế tiền cho vay là 10.000.000 đồng) với lãi suất từ 4000 đến 4.762 đồng/01 triệu/01 ngày tương đương với mức lãi suất 146%/năm đến 173,81%/năm, gấp từ 7,3 đến 8,7 lần mức lãi suất theo quy định của pháp luật. Số tiền lãi đã thu của chị T3 là 6.000.000 đồng (lãi thu theo quy định: 739.726 đồng, thu lời bất chính: 5.260.274 đồng). Hiện chị T3 đã thanh toán hết tiền gốc và tiền lãi cho L.
- Quá trình khám xét tại chỗ ở của L không thu giữ được đồ vật, tài liệu, vật chứng gì liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Đỗ Ngọc A, Mai Thị T3 và Nguyễn Thị T2 không có yêu cầu gì về phần dân sự.
Chị Nguyễn Thị Hồng N và chị Trịnh Thị Xuân T1 yêu cầu bị can Trịnh Quang L trả lại số tiền lãi vượt quá quy định của pháp luật. Trong đó, chị N: 5.490.411 đồng; chị T1: 8.227.397 đồng.
Thu giữ và xử lý vật chứng:
- Ngày 26/12/2024, Trịnh Quang L giao nộp 02 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Thị Hồng N, Trịnh Thị Xuân T1 để lại khi vay tiền của L. Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Hồng N và Trịnh Thị Xuân T1.
- Đối với tờ giấy vay nợ của chị Trịnh Thị Xuân T1, Mai Thị T3, Nguyễn Thị Hồng N và Đỗ Ngọc A thu giữ của Trịnh Quang L ngày 26/12/2024, chuyển kèm hồ sơ vụ án để xử lý theo quy định của pháp luật.
- - Đối với giấy vay nợ của chị Nguyễn Thị T2 không thu giữ được ( L đã hủy do chị T2 đã trả hết nợ hết).
Cáo trạng số: 56/CT-VKSTPTH ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Trịnh Quang L về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự.
Phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và khung hình phạt như quyết định của bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Quang L từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo; hình phạt bổ sung cho bị cáo từ 40.000.000đ đến 50.000.000 đồng. Về biện pháp tư pháp: Truy thu từ bị cáo Trịnh Quang L số tiền 25.000.000 đồng (là phương tiện dùng vào việc phạm tội) và 4.766.674 đồng (tiền đã thu lời bất chính) để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Truy thu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền cụ thể là: Chị Nguyễn Thị Hồng N 15.000.000 đồng; chị Trịnh Thị Xuân T1 15.000.000 đồng; chị Đỗ Ngọc A 15.000.000 đồng. Buộc bị cáo Trịnh Quang L phải trả lại số tiền (lãi vượt quá quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự) cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án gồm: Chị Nguyễn Thị Hồng N: 5.490.411 đồng; chị Trịnh Thị Xuân T1: 8.227.397 đồng. Chấp nhận sự tự nguyện của Chị Đỗ Ngọc A, Mai Thị T3 và Nguyễn Thị T2 không yêu cầu giải quyết về phần trách nhiệm dân sự. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo không đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì, Hội đồng xét xử tiến hành theo thủ tục chung.
[2]. Các căn cứ để định tội đối với bị cáo: Về lời khai tại phiên tòa hôm nay với lời khai của bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vật chứng đã thu được cùng tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:
Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2024, Trịnh Quang L đã sử dụng 70.000.000 đồng cho Nguyễn Thị Hồng N, Trịnh Thị Xuân T1, Đỗ Ngọc A, Mai Thị T3, Nguyễn Thị T2 vay thăm với lãi suất từ 4.000 đồng đến 11.765 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương với lãi suất từ 146%/ năm đến 429,71%/năm, gấp 7,3 đến 21,5 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tổng tiền lãi đã thu 45.000.000 đồng (trong đó: lãi thu theo quy định là 4.766.674 đồng, thu lợi bất chính 40.233.326 đồng).
[3]. Tính chất vụ án: Tệ nạn cho vay nặng lãi đang lan rộng trên địa bàn thành phố nói riêng và cả nước nói chung. Mặc dù đã được lực lượng Công an triệt phá nhiều tụ điểm và thông qua công tác xét xử đã tuyên truyền sâu rộng, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi các tội phạm tiếp theo, bị cáo biết nhưng vẫn phạm tội. Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung.
[4]. Về trách nhiệm hình sự của bị cáo (TNHS): Trịnh Quang L nhân thân chưa có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS là thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và sau khi phạm tội đến cơ quan Công an đầu thú để khai nhận hành vi phạm tội của mình và bị cáo có bố đẻ là thương binh. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Vì bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng Điều 36 của BLHS để cho bị cáo được hưởng hình phải cải tạo không giam giữ, để yên tâm cải tạo sớm trở thành người lương thiện.
Đối với Trịnh Quang L bản thân là lao động tự do, không có việc làm thu nhập ổn định có xác nhận của chính quyền địa phương, nghĩ nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian chấp hành án.
Vì bị cáo Trịnh Quang L bị tạm giữ 09 ngày (từ ngày 16/12/2024 đến 25/12/2024. Do đó khi quyết định hình phạt còn lại cần được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt còn lại là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 36 của BLHS.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trịnh Quang L phạm tội có tính chất vụ lợi nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6]. Về biện pháp tư pháp:
Đối với 70.000.000 đồng tiền gốc Trịnh Quang L cho vay lấy lãi là phương tiện phạm tội do đó cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Hiện tại Trịnh Quang L mới thu được 25.000.000 đồng, còn 45.000.000 đồng chưa thu lại được do người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Thị Hồng N, Trịnh Thị Xuân T1, Đỗ Ngọc A chưa thanh toán xong. Như vậy, truy thu của những người trên để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền cụ thể là: Chị Nguyễn Thị Hồng N số tiền 15.000.000 đồng; chị Trịnh Thị Xuân T1 số tiền 15.000.000 đồng; chị Đỗ Ngọc A số tiền 15.000.000 đồng.
Đối với số tiền lãi Trịnh Quang L được nhận theo lãi suất quy định tại Điều 468 của BLDS tương ứng với 20%/năm là 4.766.674 đồng hiện những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thanh toán hết cho Trịnh Quang L. Đây là số tiền phát sinh từ tội phạm do đó cần truy thu của bị cáo để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước đối với số tiền trên.
Đối với số tiền lãi Trịnh Quang L thu vượt quá quy định. Hiện những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thanh toán hết cho Trịnh Quang L. Đây là số tiền bị cáo có được từ việc thu lời bất chính của người vay, căn cứ vào Điều 468 của BLDS quy định: “Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”. Quá trình điều tra xác định những người vay sử dụng tiền vay vào mục đích hợp pháp. Do đó, khoản tiền thu lợi bất chính cần được trả lại cho người vay tiền. Cụ thể là: Chị Nguyễn Thị Hồng N: 5.490.411 đồng; chị Trịnh Thị Xuân T1: 8.227.397 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chị Đỗ Ngọc A, Mai Thị T3 và Nguyễn Thị T2 không yêu cầu gì về phần dân sự, cần được chấp nhận sự tự nguyện của những người liên quan.
[7]. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1,3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36; khoản 1 Điều 47 của BLHS; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Quang L phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Quang L 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ đi 27 (hai bảy) ngày cải tạo không giam giữ bị cáo đã chấp hành. Bị cáo còn phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nhận được Quyết định Thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Trịnh Quang L Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóam sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Hình phạt bổ sung:
- Phạt bị cáo số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
- Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trịnh Quang L.
Về biện pháp tư pháp:
Truy thu từ bị cáo Trịnh Quang Ltiền 25.000.000 đồng (là phương tiện dùng vào việc phạm tội) và 4.766.674 đồng (tiền đã thu lời bất chính). Tổng số tiền phải truy thu là 25.766.674 (làm tròn số: 29.766.000 đồng) để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Truy thu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền: Chị Nguyễn Thị Hồng N0.000 đồng; chị Trịnh Thị Xuân T100.000 đồng; chị Đỗ Ngọc A000.000 đồng.
Buộc bị cáo Trịnh Quang Li trả lại số tiền (lãi vượt quá quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự) cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án gồm: Chị Nguyễn Thị Hồng N: 5.490.411 đồng; chị Trịnh Thị Xuân T1: 8.227.397 đồng.
Chấp nhận sự tự nguyện của Chị Đỗ Ngọc A, Mai Thị T3Nguyễn Thị T2g yêu cầu giải quyết về phần trách nhiệm dân sự.
Về án phí: Bị cáo Trịnh Quang Li chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Anh |
Bản án số 93/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 93/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
