|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 93/2024/HS-PT Ngày: 31/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Liễu;
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Hạng;
Ông Nguyễn Trung Tín.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Vi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Bai - Kiểm sát viên.
Ngày 31/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 87/2024/TLPT-HS ngày 19/6/2024 đối với bị cáo Nguyễn Minh C do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh C và bị hại Trần Thanh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Minh C, sinh năm 1983 tại: Bình Định; Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thuyền viên; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 (Chết) và bà Nguyễn Thị H (Chết); có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1988; Có con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại có kháng cáo:
Họ và tên: Trần Thanh T, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 18/7/2023, Nguyễn Minh Căn nhậu cùng với Trần Thanh T, Lê Thanh S và một số người khác trên ghe của ông Cao Phú H1 đang neo đậu tại vùng biển thuộc tổ dân phố L, phường C, thành phố C để tránh bão. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T gọi điện thoại kình cãi với vợ nên C nói với T say rồi thì đi ngủ. T chửi thề C và cha mẹ C nên C lấy một chiếc kéo để trên bàn nhậu đâm 01 nhát trúng cánh tay trái của T gây thương tích.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 445/KLTTCT-PYBRVT ngày 07/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: Tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Trần Thanh T tại thời điểm giám định là 16%; Vật gây thương tích: Vật cứng sắc nhọn.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (dẫn chiếu điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Minh C; Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 08/5/2024, bị cáo Nguyễn Minh C có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Ngày 21/5/2024, bị hại Trần Thanh T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được cải tạo ở địa phương.
* Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh C và bị hại Trần Thanh T trong thời hạn luật định nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh C tự nguyện rút toàn bộ nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo.
Đối với kháng cáo của bị hại Trần Thanh T, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Minh C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (dẫn chiếu điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường cho bị hại quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt) và không có tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Minh C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh C và bị hại Trần Thanh T trong thời hạn quy định của pháp luật nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện rút toàn bộ nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Xét thấy, việc rút đơn kháng cáo của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và không bị ai ép buộc nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 348, điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng Hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh C.
Bị hại Trần Thanh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo ở địa phương, tại phiên tòa bị hại vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng Hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Minh C đã khai nhận hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ để xác định: Khoảng 20 giờ ngày 18/7/2023, tại ghe của ông Nguyễn Phú H2 đang neo đậu tại vùng biển thuộc tổ dân phố L, phường C, thành phố C, Nguyễn Minh C đã có hành vi dùng kéo là hung khí nguy hiểm đâm trúng cánh tay trái của Trần Thanh T gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Minh C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (dẫn chiếu điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo ở địa phương của bị hại Trần Thanh T: Bị cáo Nguyễn Minh C bị cấp sơ thẩm truy tố, xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (dẫn chiếu điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về nhân thân của bị cáo, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường cho bị hại và được bị hại làm đơn xin bãi nại, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, không có tình tiết giảm nhẹ nào mới phát sinh thêm nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo ở địa phương.
[4] Về án phí: Bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 348, điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh C.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Thanh T và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Minh C.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (dẫn chiếu điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[2] Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Bích Liễu |
* Nơi nhận:
- - Vụ GĐKT I - TANDTC;
- - TANDCC tại Đà Nẵng;
- - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
- - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
- - TAND TP. Cam Ranh;
- - VKSND TP. Cam Ranh;
- - Công an TP. Cam Ranh;
- - Chi cục THA dân sự TP. Cam Ranh;
- - Bị cáo;
- - Lưu hồ sơ, án văn.
Bản án số 93/2024/HS-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 93/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh Châu cố ý gây thương tích
