TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 93/2024/HS-ST Ngày: 12-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đoàn Văn Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Văn Phương;
Ông K' Đào.
- Thư ký phiên tòa: ông Phí Hoàng Tuấn - Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: ông Mai Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lưu Văn H (tên gọi khác Hoàng Trọng T), sinh ngày 12 tháng 12 năm 1973 tại Nghệ An; nơi cư trú: xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: S Làng N, T, T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: bảo vệ; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn H1, sinh năm: 1942 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1944; vợ: Lưu Thị C, sinh năm 1989, con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: Năm 1991 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 13 năm tù giam về tội “Giết người”; Ngày 17/12/1997, bị Toà án nhân dân huyện Di Linh xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”; ngày 23/4/1999, bị Toà án nhân dân huyện Di Linh xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chưa được xóa án tích; tiền sự: không; nhân thân: ngày 12/4/2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 02 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ” 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tổng hợp hình phạt 13 năm tù về tội “Giết người”. Tổng hợp hình phạt đối với 03 tội danh là 16 năm tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/11/2010; ngày 19/12/2019 bị
Công an xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “mua số đề”. Đã đóng phạt ngày 23/12/2019; bị cáo bị bắt truy nã ngày 04/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Lâm Đồng, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: bà Trần Thị D, sinh năm: 1957; địa chỉ: thôn H, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Huỳnh Ngọc Đ, sinh năm: 1987; địa chỉ: thôn H, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
- Ông Liang Nguyễn Thái D1, sinh năm: 1982; địa chỉ: thôn D, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Chu Văn P, sinh năm: 1967; địa chỉ: xóm H, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 07/8/2000, Lưu Văn H (tên gọi khác: Hoàng Trọng T) bàn bạc với Chu Văn P, sinh năm: 1967, nơi cư trú: thôn H, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Liang Nguyễn Thái D1, sinh năm: 1982, nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng và Huỳnh Ngọc Đ, sinh năm: 1983, nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng thống nhất cùng nhau đột nhập vào nhà bà Trần Thị D, sinh năm: 1957, nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng để trộm cắp tài sản. H, P, D1 và Đ chuẩn bị xà beng và bả chó đến nhà bà D, sau đó cho chó ăn bả chết, rồi dùng xà beng cạy cửa đột nhập vào nhà thì phát hiện trong nhà có xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream II của nhà bà D vừa mua, chưa được cấp đăng ký xe và biển số với giá mua xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream II trị giá 35.000.000 đồng. P lắc tay lái của xe thì còi báo động vang lên nên H, P, N, D1 và Đ bỏ chạy. Đến khoảng 03 giờ 00 ngày 08/8/2000, H, P và Đ quay lại cạy bung ổ khoá điện nguồn và ổ khoá chân chống, rồi dắt xe mô tô của nhà bà D ra đường Q. Sau đó P một mình mang xe đi tìm chỗ tiêu thụ và không gặp lại H.
Sau khi H nghe tin là Đ, D1 và P bị Công an huyện D bắt nên H bỏ trốn đến tỉnh Bình Phước. Tại huyện P, tỉnh Bình Phước, H tiếp tục sử dụng tên Hoàng Trọng T để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và bị bắt. Công an huyện P, tỉnh Bình Phước xác định được nhân thân lai lịch của T là Lưu Văn H, sinh năm: 1973,
thường trú tại: xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, đang bị truy nã về hành vi trốn khỏi nơi giam giữ, còn tên Hoàng Trọng T và các thông tin các nhân liên quan là do T tự nghĩ ra để sử dụng nhằm trốn tránh cơ quan chức năng trong thời gian bỏ trốn. Sau khi chấp hành xong các bản án thì Hoàng Trọng T sử dụng lại tên thật là Lưu Văn H và sinh sống tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Đến tháng 8/2022 thì Lưu Văn H làm bảo vệ và sinh sống tại Công ty S, địa chỉ: S5-17 Làng nghề T, T, T, Thành phố Hà Nội.
Quá trình điều tra xác minh nhân thân lai lịch của bị cáo Lưu Văn H như sau:
Ngày 25/9/1991, Lưu Văn H có hành vi giết người tại huyện Q, bị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 13 năm tù. Chấp hành tại Trại giam T3 (huyện N, tỉnh Thanh Hóa). Năm 1994 H trốn khỏi nơi giam giữ, bị Trại giam T3 ra Quyết định truy nã. Sau khi trốn khỏi nơi giam giữ thì đi đến sinh sống tại thôn D, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng và sử dụng tên Hoàng Trọng T, sinh năm: 1972, hộ khẩu thường trú: xóm F, N, N, Nghệ An, tên cha: Hoàng Trọng T2, tên mẹ: Nguyễn Thị Tuyết .
Ngày 17/12/1997, Hoàng Trọng T (tên thật là Lưu Văn H) bị Toà án nhân dân huyện Di Linh xử phạt 06 tháng tù giam theo bản án số: 59/HSST về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” (Thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chưa xoá án tích).
Ngày 23/4/1999, Hoàng Trọng T (tên thật là Lưu Văn H) bị Toà án nhân dân huyện Di Linh xử phạt 12 tháng tù giam theo bản án số: 09/HSST về tội “Gây rối trật tự công cộng” và áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” (Thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chưa xoá án tích).
Ngày 11 tháng 8 năm 2000 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D khởi tố bị can đối với Hoàng Trọng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009. Do T bỏ trốn nên ngày 25/10/2000 Công an tỉnh L ra Lệnh truy nã số: 79 đối với Hoàng Trọng T, sinh năm: 1972, nơi thường trú: xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Đến ngày 04/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D phát hiện và bắt giữ. Lưu Văn H (T) khai báo: Do vào năm 1991, H thực hiện hành vi giết người, bị TAND tỉnh Nghệ An xử phạt 13 năm tù giam. Quá trình chấp hành án tại Trại giam T3 (huyện N, tỉnh Thanh Hóa), đến năm 1994 thì H đã có hành vi trốn khỏi nơi giam giữ và bị Trại giam T3 ra Quyết định truy nã.
Vì vậy khi đến Lâm Đồng thì khai báo lý lịch là Hoàng Trọng T, sinh năm: 1972, nơi thường trú: xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An để trốn truy nã. Sau khi
được Công an huyện D thông báo Lệnh truy nã số 79/LTN ngày 25/10/2000 của Công an tỉnh L thì Lưu Văn H xác nhận mình chính là người bị truy nã theo Lệnh truy nã nói trên nhưng thông tin người bị truy nã ghi trong Lệnh truy nã bị sai là do trước đây H sinh sống tại huyện D và luôn dùng thông tin nhân thân giả là Hoàng Trọng T.
Tại bản Kết luận giám định số: 4103/KL-KTHS ngày 31/05/2024 của V Bộ C1 kết luận: Dấu vân tay in ở ô trỏ phải trong danh bản ghi tên Hoàng Trọng T, sinh năm 1972, nơi thường trú: xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An với dấu vân tay in ở ô ngón trỏ phải trong tờ khai CMND (bản sao) số [...], ghi tên: Lưu Văn H, sinh ngày 12/12/1973, nơi thường trú: Diễn Tân, D, Nghệ An là dấu vân tay của cùng một người.
Vật chứng thu giữ: hông.
Tại cơ quan điều tra Lưu Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: người bị hại là bà Trần Thị D không có yêu cầu đề nghị gì về bồi thường thiệt hại tài sản, đồng thời đã làm đơn xin được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Lưu Văn H. Ông Liang Nguyễn Thái D1 không yêu cầu bồi thường dân sự về số tiền ông đã bồi thường cho bà Trần Thị D trước đây. Ông Huỳnh Ngọc Đ hiện không có mặt tại địa phương nên không làm việc được để ghi nhận ý kiến về yêu cầu bồi thường dân sự.
Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Lưu Văn H (Hoàng Trọng T) về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi mà mình đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, không có nội dung gì thay đổi. Bị cáo, bị hại thống nhất và không thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo tự nguyện bồi thường hỗ trợ thêm cho bị hại ¼ giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 8.750.000 đồng.
Bị hại trình bày: đã nhận đủ số tiền bị cáo bồi thường trong bản án hình sự số 47/HSST ngày 23/11/2000 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh. Đã nhận đủ số tiền bị cáo tự nguyện bồi thường, hỗ trợ thêm là 8.750.000 đồng không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng trình bày luận tội, tranh luận đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo H (T) về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 05/11/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo H (T) phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Qua phân tích đánh giá tính chất mức độ về hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đề nghị: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; các Điều 17, 38, 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lưu Văn H (Hoàng Trọng T) từ 24 đến 30 tháng tù giam.
Về trách nhiệm dân sự: đã được giải quyết tại Bản án số 47/HSST ngày 23/11/2000 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh đã có hiệu lực pháp luật và bị cáo đã tự nguyện bồi thường, hỗ trợ xong cho bị hại số tiền 8.750.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đề cập.
Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án là các ông D1, Đ, P vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, xét sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 03 giờ ngày 08/8/2000 tại thôn H, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, Lưu Văn H (tên gọi khác là Hoàng Trọng T) đã có hành vi cùng đồng bọn trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream II trị giá 35.000.000 đồng của bà Trần Thị D. Ngoài ra Lưu Văn H (Hoàng Trọng T) có 03 tiền án: năm 1991 bị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 13 năm tù giam “Giết người”; ngày 17/12/1997, bị Toà án nhân dân huyện Di Linh xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”; ngày 23/4/1999, bị Toà án nhân dân huyện Di Linh xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Gây rối trật tự công cộng” và áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” chưa được xóa án tích vì vậy hành vi trộm cắp tài sản ngày 08/8/2000 thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi trên của bị cáo Lưu Văn H được áp dụng theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có bố là ông Lưu Văn H1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị T1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi xử lý.
[5] Về quyết định hình phạt: xét thấy bị cáo là người đã thành niên nên bị cáo biết, nhận thức rõ được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì tư lợi cá nhân mà bị cáo đã cùng Đ, D1, P thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream II trị giá 35.000.000 đồng của bà Trần Thị D. Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.
Tuy nhiên, thời gian thực hiện hành vi phạm tội cũng đã lâu, sau khi chấp hành xong hình phạt của các bản án trước, bị cáo đã lập gia đình, sinh con, đi làm bảo vệ tại Công ty cổ phần T4 và vật tư xây dựng tại Hà Nội được Công ty xác nhận hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý tự nguyện bồi thường, hỗ trợ thêm cho bị hại số tiền 8.750.000 đồng (đã thực hiện xong).
Hành vi của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến trật tự, trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây nghi kỵ lẫn nhau nên cần xử phạt bị cáo hình phạt nghiệm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự: đã được giải quyết tại Bản án số 47/HSST ngày 23/11/2000 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh đã có hiệu lực pháp luật, bị hại đã nhận xong tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm. Tại phiên tòa bị cáo đã tự nguyện bồi thường, hỗ trợ cho bị hại số tiền 8.750.000 đồng, (đã thực hiện xong) bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đề cập.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Liang Nguyễn Thái D1 không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự về số tiền đã bồi thường cho bà Trần Thị D trước đây. Ông Huỳnh Ngọc Đ hiện không có mặt tại địa phương nên không làm việc được để ghi nhận ý kiến về yêu cầu bồi thường dân sự, nếu có tranh chấp có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
[7] Về xử lý vật chứng: đã được giải quyết tại bản án hình sự số 47/HSST ngày 23/11/2000 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh đã có hiệu lực pháp luật nên không đề cập.
[8] Đối với Chu Văn P, Liang Nguyễn Thái D1, Huỳnh Ngọc Đ là những người cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng Lưu Văn H (H) đã được Tòa án nhân dân huyện Di Linh xét xử tại Bản án số: 47/HSST ngày 23/11/2000 và Bản án số: 08/HSST ngày 26/02/2002 nên không đề cập giải quyết.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: bị cáo Lưu Văn H (Hoàng Trọng T) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; các Điều 17, 50, 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Lưu Văn H (Hoàng Trọng T) 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 04/6/2024.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: bị cáo; bị hại có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án là các ông Huỳnh Ngọc Đ, Liang Nguyễn Thái D1, Chu Văn P vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Đoàn Văn Chiến |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ K' Đào – Phan Văn Phương | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Đoàn Văn Chiến |
8
9
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Văn H
