Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 93/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09/12/2024

V/v: “Ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG -TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Huỳnh Hải Âu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lê Hưng Quang

2. Ông: Phạm Hồng Sơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Dung - Kiểm sát viên.

- Thư ký phiên toà: Ông Hán Tấn Tiến -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 241/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 06 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 74/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị P, sinh năm 1988

Địa chỉ: Khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1996

Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị P trình bày:

- Về hôn nhân: Trước đây, tôi và ông Võ Văn T tự nguyện tìm hiểu, yêu thương rồi chung sống với nhau vào năm 2014 nhưng đến năm 2016 tôi với ông Võ

Văn T mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Khi về chung sống với nhau, tôi và ông T sống tại gia đình nhà chồng thuộc Khu phố B, thị trấn L.Vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì bắt đầu có sự mâu thuẫn mà nguyên nhân chính là mâu thuẫn về kinh tế gia đình, ông Võ Văn T thường hay cờ bạc, không có sự chia sẻ trong việc chăm lo cho gia đình, tình trạng như vậy cứ thế kéo dài không có sự thay đổi. Đến cuối năm 2017, cuộc sống chung của vợ chồng trở nên mâu thuẫn và căng thẳng đến mức tôi bỏ đi về sống tại nhà cha mẹ ruột của tôi thuộc khu phố E, thị trấn L. Từ đó, tôi và ông Võ Văn T không còn chung sống với nhau cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay, tôi yêu cầu được ly hôn với ông Võ Văn T vì cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài.

- Về con chung: Tôi và ông Võ Văn T có 01 người con chung tên Võ Thị Kiều V, sinh ngày 16/9/2016. Hiện, tôi đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, tôi yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi Võ Thị Kiều V đủ 18 tuổi. Tôi không yêu cầu ông Võ Văn T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Võ Văn T không có mặt ở địa phương nên không tiến hành hòa giải được.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa:

Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân theo đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn; Đề nghị giao người con chung tên Võ Thị Kiều V cho nguyên đơn tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành; Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: do nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với ông Võ Văn T; Ông Võ Văn T có đăng ký thường trú tại Khu phố B, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận nên đây là tranh chấp “ly hôn, nuôi con chung” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện

Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Do bị đơn không có mặt ở địa phương và không rõ thời điểm trở về nên Tòa án tiến hành lập biên bản và niêm yết các văn bản tố tụng đúng theo quy định tại Điều 177, Điều 179 Bộ Luật tố tụng dân sự và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về pháp luật được áp dụng để giải quyết: Bà Lê Thị P và ông Võ Văn T xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận nên là hôn nhân hợp pháp. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết.

[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị P:

- Về hôn nhân: Bà Lê Thị P yêu cầu ly hôn với ông Võ Văn T với lý do cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trong thời gian dài, nguyên nhân mâu thuẫn từ việc ông T không quan tâm chăm sóc gia đình bất đồng quan điểm sống; Bà P và ông T không còn chung sống trong thời gian dài, không còn quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà P và ông T phù hợp với lời khai của cha ruột ông Võ Văn T và biên bản xác minh tại địa phương, chứng tỏ tình nghĩa vợ chồng giữa bà P và ông T không còn. Như vậy, tình trạng hôn nhân của bà Lê Thị P và ông Võ Văn T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Để đảm bảo quyền lợi của các đương sự và ổn định cuộc sống cho các bên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

- Về con chung: Bà Lê Thị P và ông Võ Văn T có 01 người con chung tên Võ Thị Kiều V, sinh ngày 16/9/2016. Khi ly hôn bà P yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung cho đến khi Võ Thị Kiều V đủ 18 tuổi.

Qúa trình giải quyết Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của cháu Võ Thị Kiều V, ý kiến cháu V mong muốn được ở với mẹ. Hội đồng xét xử thấy rằng từ khi bà P và ông T không còn sống chung cho đến nay, bà P là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và hiện nay cuộc sống của cháu Võ Thị Kiều V đang ổn định. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị P, giao người con chung tên Võ Thị Kiều V cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu Võ Thị Kiều V đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị P không yêu cầu ông Võ Văn T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Ông Võ Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về tài sản và nợ chung: Trong quá trình giải quyết nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa đề nghị phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

[6] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Lê Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Lê Thị P. Bà Lê Thị P được ly hôn với ông Võ Văn T.

2/ Về con chung: Giao người con chung tên Võ Thị Kiều V, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2016 cho bà Lê Thị P tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi Võ Thị Kiều V đủ 18 tuổi.

Bà Lê Thị P không yêu cầu ông Võ Văn T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3/ Về án phí: Bà Lê Thị P phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc giải quyết ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền

300.000 đồng bà Lê Thị P đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm tại biên lai thu số 0006862 ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong nên tiền án phí ly hôn sơ thẩm bà Lê Thị P đã nộp đủ.

4/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị P được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/12/2024). Đối với bị đơn ông Võ Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Tuy Phong;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Chi cục THADS huyện Tuy Phong;
  • - UBND thị trấn L;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Hải Âu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HNGĐ-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 93/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger