|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 93 /2024/HS-ST Ngày: 29-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà: Trần Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Hòa và bà Lê Thị Hồng
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Đinh Xuân Giáp- Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên tòa: Bà Doãn Thị Ánh Tuyết- Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2024/HSST, ngày 18/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HS ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thanh T; sinh ngày: 29 tháng 3 năm 2000, tại: huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm I xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn B và bà Lê Thị H; vợ, con: Chưa; tiền sự: Không;
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2019/HS-ST ngày 17/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt 03 tháng 19 ngày tù, về tội: "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong án phạt tù ngày 17/9/2019.
Nhân thân:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2020/HS-ST ngày 16/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội: "Trộm cắp tài sản".
- Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt 03 năm tù, về tội: "Trộm cắp tài sản", đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Đ - Bộ C.
Bị cáo bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Nghệ An theo Lệnh trích xuất phạm nhân số 9519/LTX của Cơ quan quản lý Thi hành án hình sự - Bộ C. Có mặt.
1
- Bị hại: Chị Lưu Thị M, sinh năm 1987; Địa chỉ: xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. (Đã chết ngày 31/7/2024).
Đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1978; Địa chỉ: xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt. (Có đơn xin vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Hữu T2, sinh năm 2002; Địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt. (Có đơn xin vắng mặt).
+ Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 2000; Địa chỉ: xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt. (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 21/11/2019, Lê Thanh T cùng với Nguyễn Hữu T2 (sinh năm 2002, trú tại xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An) đang chơi game ở quán Boss tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, thì nhận được điện thoại của Nguyễn Văn P (sinh năm 2000, trú tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) hỏi: “Tối ni có đi trộm gà không?”, T trả lời: “Có”, P nói: “Tau không có xe”, T nói: “Có xe thằng Thống đây rồi, ra cửa đi, tí lại tau đón”. Một lúc sau, T nói với T2: “Bựa ni không có tiền, bắt con gà ta bán”, T2 trả lời: “Ừ, rứa ta đi tí rồi về”, T nói: “Tí lại đón P nữa” thì T2 đồng ý. Khoảng 20 phút sau, T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 37B1-157.06 chở T2 đi đến gần cổng nhà đón P đang đứng chờ sẵn. T chở T2 và Phúc đi đến chân cầu vượt thuộc khối C, thị trấn Q, huyện N thì phát hiện 01 (một) bì xác rắn màu đỏ cam bên lề đường, T2 xuống nhặt bì rồi cả ba tiếp tục đi đến xóm N, xã N, huyện N thì dừng xe bên lề đường. T nói với P: “Mi đứng ngoài canh xe, để tau với thằng T2 vô”, T2 cầm theo bì xác rắn đi cùng T vào nhà chị Lưu Thị M (sinh năm 1987) ở xóm N, xã N, huyện N thì thấy chuồng gà có đèn điện sáng nên đi vòng ra phía sau để đột nhập vào trong. Khi vào đến chuồng gà, T đi đến bắt trộm 05 (năm) con gà bỏ vào bì do T2 đang cầm đứng chờ. Sau đó, T và T2 đi ra chỗ P đứng chờ rồi cả ba người lên xe do T điều khiển đi vào địa bàn xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An tìm nơi tiêu thụ thì bị lực lượng Công an xã N, tình phố V phát hiện, bắt giữ Nguyễn Văn P cùng vật chứng là 05 (năm) con gà, còn T và T2 điều khiển xe mô tô bỏ chạy thoát.
Đến ngày 4/6/2024, Nguyễn Hữu T2 đến Công an huyện N, tỉnh Nghệ An đầu thú khai nhận hành vi vi phạm. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 37B1-157.06 thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị S (sinh năm 1983, trú tại xóm B, xã H, huyện H, là chị ruột của T2), ngày 21/11/2019 chị S1 cho T2 mượn xe để đi chơi, không biết T2 sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không thu giữ chiếc xe trên.
2
Tại Kết luận định giá tài sản số 89/KL.ĐG ngày 21/11/2019 của Hội động định giá tài sản tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện N kết luận: “Giá trị của tài sản theo yêu cầu định giá tài sản của Công an huyện N là 1.350.000 đồng (Một triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng)”.
Bản Cáo trạng số: 96/CT-VKS-NL ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt chính: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Thanh T từ 06 tháng đến 08 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án: từ 03 năm 06 tháng tù đến 03 năm 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2022.
- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì về dân sự đối với bị cáo nên miễn xét.
- Về án phí: Bị cáo Lê Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí về tội danh, khung hình phạt, không tranh luận gì và có lời nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất ăn năn, hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên Tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
3
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt và đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, tại hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của những người trên, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết, xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ theo quy định tại điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội, tội danh và khung hình phạt:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Lê Thanh T khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và quy kết, không có khai nại gì khác. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đầy đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 21/11/2019, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, Lê Thanh T đã thực hiện hành vi đột nhập vào khu vực chuồng gà của gia đình chị Lưu Thị M ở xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An trộm cắp 05 (năm) con gà có trị giá là 1.350.000 đồng (Một triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng). Tuy trị giá tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi trên, bị cáo đang có 01 tiền án về tội "Trộm cắp tài sản" tại bản án số 57/2019/HS-ST ngày 17/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, chưa được xóa án tích.
Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Về tính chất vụ án, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã bị xét xử và vừa mới chấp hành xong hình phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” vào ngày 17/9/2019, chưa được xóa án tích nhưng vẫn cố tình tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhằm mục đích bán kiếm tiền tiêu xài cá nhân, chứng tỏ bị cáo là đối tượng liều lĩnh, xem thường pháp luật. Vì vậy cần lên mức án nghiêm, tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc là có căn cứ và thật sự cần thiết.
4
Bị cáo Lê Thanh T là người có nhân thân xấu. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo đang phải chấp hành án phạt tù, không có tài sản riêng gì lớn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về vật chứng vụ án: Xét thấy:
+ Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 37B1-157.06 thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị S (sinh năm 1983, trú tại xóm B, xã H, huyện H, là chị ruột của T2), ngày 21/11/2019 chị S cho T2 mượn xe để đi chơi, không biết T2 sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra, cơ quan điều tra không thu giữ chiếc xe trên mà trả lại cho chị S là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Đối với 05 (năm) con gà gồm: 02 (hai) con gà trống và 03 (ba) con gà mái, có tổng trọng lượng 13,5 kg (Mười ba phẩy năm kilôgam), ngày 23/11/2019 Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại, đến nay đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì về dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Đối với 01 (một) bì xác rắn màu đỏ cam, kích thước (60x97)cm, đã qua sử dụng có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7]. Trong vụ án này còn có các đối tượng Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Văn P tham gia thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng bị cáo Lê Thanh T. Tuy nhiên, Nguyễn Hữu T2 và Nguyễn Văn P đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc chưa bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” hoặc các tội khác quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự nên hành vi của P, T2 chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên đã hết nên không xử lý, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, đại diện hợp pháp của bị hại có yêu cầu gì về dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo Lê Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản".
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An: Buộc bị cáo Lê
5
Thanh T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2022.
Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì xác rắn màu đỏ cam, kích thước (60x97)cm, đã qua sử dụng.
Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi cục THADS huyện N, lập vào ngày 21 tháng 11 năm 2023.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Thanh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng Vân |
6
7
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tú phạm tội trộm cắp tài sản
