Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/HS-PT

Ngày 27-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành.

Các thẩm phán: - Ông Vũ Duy Luân

- Bà Đỗ Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 164/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Đức H do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đối với bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

* Bị cáo: Nguyễn Đức H, sinh năm 1992, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Số nhà C, ngõ B, đường L, tổ D, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị T; Có vợ: Bùi Thị Thu T1 và 02 con, con lớn, sinh năm 2011; con nhỏ, sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 155/2017/HSST ngày 29/5/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2019, chấp hành xong án phí ngày 08/11/2017. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/02/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Trích xuất có mặt)

* Bị hại: Chị Trần Thị Ngọc A, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)

* Người làm chứng:

  • - Chị Bùi Thị Thu T1, sinh năm 1986
  • Nơi cư trú: số nhà A, ngõ A, đường T, tổ C, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
  • - Anh Lê Minh Q, sinh năm 1998
  • Nơi cư trú: Số nhà A, ngõ A, đường T, tổ C, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền chi tiêu cá nhân, ngày 22/7/2022 chị Trần Thị Ngọc A hỏi vay bị cáo Nguyễn Đức H 50.000.000 đồng, bị cáo đồng ý. Bị cáo và chị Ngọc A thỏa thuận tính lãi suất là 5.000đồng/01triệu/01ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,1 lần so với lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, trả lãi theo tháng, quy định tính lãi một tháng là 30 ngày (không tính tháng có 28 hay 31 ngày), người vay trả lãi vào ngày vay của tháng tiếp theo nhưng không cố định, trong tháng khi nào có thì trả; thời hạn vay, khi đến hạn trả thì sẽ phải trả tiền gốc, nếu chưa có tiền trả tiền gốc thì tiếp tục phải trả tiền lãi của tháng tiếp theo, trả tiền lãi đưa tiền mặt hoặc trả qua tài khoản ngân hàng.

Sau khi đã thống nhất, bị cáo cắt lãi tháng đầu 7.500.000 đồng rồi dùng số tài khoản 5555567891992, Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (MB), chủ tài khoản Nguyễn Đức H chuyển 42.500.000 đồng đến số tài khoản 0211000469763, Ngân hàng thương mại cổ phần N (V) của chị Ngọc A. Chị Ngọc A đã trả tiền lãi cho bị cáo H 04 tháng (từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2022) với tổng số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), số tiền lãi cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 3.287.671 đồng, số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 26.712.329 đồng. Đến tháng 11, 12 năm 2022, do hoàn cảnh khó khăn nên bị cáo không thu tiền lãi của chị Ngọc A nữa.

Ngày 07/12/2022, chị Ngọc A tiếp tục vay của bị cáo số tiền 20.000.000 đồng và thỏa thuận tính lãi suất là 5.000đồng/01triệu/01ngày. Bị cáo cắt lãi tháng đầu là 3.000.000 đồng và chuyển 17.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng MB của bị cáo tới tài khoản V cho chị Ngọc A. Số tiền lãi cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 328.767 đồng, số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 2.671.233 đồng.

Đến cuối tháng 01/2023, chị Ngọc A vay thêm bị cáo 10.000.000 đồng. Tổng số tiền gốc chị Ngọc A vay của bị cáo là 80.000.000 đồng, lãi suất 5.000đồng/01triệu/01ngày, tương đương mỗi tháng chị Ngọc A phải trả 12.000.000 đồng tiền lãi. Chị Ngọc A đã trả cho bị cáo 02 tháng tiền lãi (tháng 1, tháng 2/2023) là 24.000.000 đồng. Số tiền lãi cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 2.630.136 đồng, số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 21.369.864 đồng.

Đến tháng 3/2023, do chồng chị Ngọc A bị đột qụy nên đã xin bị cáo giảm lãi suất xuống là 3.000 đồng/01triệu/01ngày tức là 7.200.000 đồng/tháng, tương ứng lãi suất 108%/năm, gấp 5,4 lần so với lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, bị cáo đồng ý. Chị Ngọc A trả tiền lãi cho bị cáo từ tháng 3/2023 đến tháng 7/2023 (05 tháng) với tổng số tiền là 36.000.000 đồng. Tháng 8/2023 chị Ngọc A chỉ trả lãi cho bị cáo được 5.800.000 đồng. Từ tháng 9/2023, chị Ngọc A không trả lãi cho bị cáo nữa. Tổng số lãi bị cáo thu của chị Ngọc A là 41.580.000 đồng, số tiền lãi cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 7.890.410 đồng, số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 33.689.590 đồng.

Như vậy, tổng số tiền lãi chị Ngọc A đã trả cho bị cáo là 98.580.000 đồng, những lần chị Ngọc A trả lãi cho bị cáo đều bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản 1906717286011 ngân hàng thương mại cổ phần K (T2) mang tên Hồ Sỹ H2 (chồng chị Ngọc A) đến số tài khoản ngân hàng MB của bị cáo. Số tiền Hoàng thu lời bất chính 84.443.016 đồng. Chị Ngọc A chưa trả tiền gốc cho bị cáo.

Do chị Trần Thị Ngọc A chưa trả tiền lãi và tiền gốc nên bị cáo nói với chị Ngọc A từ tháng 10/2023 đến hết năm 2023 phải trả bị cáo cả lãi và gốc là 100.000.000 đồng. Ngày 31/01/2024, bị cáo H gọi điện cho chị Ngọc A hỏi về số trên, chị Ngọc A hứa trả cho bị cáo. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo cùng Lê Minh Q đến quán “Thái Ngọc L” ở xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình để ăn uống với bạn bè, trên đường đi bị cáo nói với Q “Tí nữa đến nhà Ngọc A để lấy tiền cho anh”, Q đồng ý. Sau khi uống rượu tại quán đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày không thấy chị Ngọc A gọi điện trả tiền nên bị cáo bảo Q đi đến nhà chị Ngọc A để lấy tiền. Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, màu xanh, (không nhớ biển kiểm soát) đến nhà chị Ngọc A. Khi Q đến nhà chị Ngọc A được vài phút thì chị Ngọc A chở con đi về. Lúc này, Q nói “có tiền trả chưa”, chị Ngọc A trả lời “chưa có, em cho chị về nhà bố chị ở chân cầu để em vào nói chuyện hộ chị, chị đi cả ngày nay không dám vào”. Do Q được bị cáo nhờ đến lấy tiền của chị Ngọc A nên Q nói “Cái này em không biết được, chị ra gặp anh H nói chuyện, nói qua em lằng nhằng”, chị Ngọc A không nói gì và đi ra ngồi lên xe của Q. Q chở chị Ngọc A ra khu vực đường D thuộc địa phận thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình và gọi điện thoại cho bị cáo H nói “Anh ra ngoài gặp chị Ngọc A nói chuyện”, bị cáo bảo “Ừ, đợi anh tỉ”. Do đã uống rượu và bức xúc về việc chị Ngọc A nhiều lần hứa mà không trả tiền nên khi gặp chị Ngọc A, bị cáo không nói gì mà dùng tay chân đấm đá vào người chị Ngọc A gây thương tích 3%. Bị cáo vừa đánh vừa nói “tiền nợ của tao 100.000.000 đồng đâu”, do sợ hãi và bị H đánh nên chị Ngọc A nói “giờ mới có 30.000.000 đồng”. Thấy vậy, Q vào can ngăn, kéo bị cáo ra không cho bị cáo đánh chị Ngọc A nữa. Bị cáo nói “thế tiền đâu đưa đây”, chị Ngọc A nói “chỉ có tiền tài khoản không có tiền mặt nhưng điện thoại của chị bị hết pin không chuyển được”, bị cáo nói với Q “mày chở bà này về sạc pin điện thoại lấy tiền cho tao”. Thấy bị cáo nói vậy, chị Ngọc A đi ra ngồi lên xe của Q, Q chở chị Ngọc A về nhà. Chị Ngọc A sạc pin điện thoại rồi hỏi Q chuyển tiền vào tài khoản của ai. Do biết bị cáo đã uống rượu say và nghĩ nếu chuyển vào tài khoản của bị cáo thì bị cáo không kiểm tra được và cũng không biết là bị cáo đã nhận được tiền chưa nên Q đọc số tài khoản 0869676226, ngân hàng M của Q cho chị Ngọc A. Chị Ngọc A chuyển 30.000.000 đồng từ tài khoản T2 mang tên Hồ Sỹ H2 đến số tài khoản của Q. Sau khi nhận được tiền, Q điều khiển xe về quán nói với bị cáo là chị Ngọc A đã chuyển số tiền 30.000.000 đồng vào tài khoản của Q. Bị cáo và Q tiếp tục ngồi uống rượu. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Q đã chuyển số tiền 30.000.000 đồng đến số tài khoản 3333367891986 ngân hàng MB của chị Bùi Thị Thu T1 (vợ H) để trả cho bị cáo H.

Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình trả lại 30.000.000 đồng và bồi thường 5.000.000 đồng chi phí khám chữa bệnh cho chị Ngọc A. Chị Ngọc A đã nhận đủ số tiền trên và không đề nghị gì khác, đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình quyết định:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Về hình phạt:
    • - Về tội Cưỡng đoạt tài sản: Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H mức án 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/02/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
    • - Về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 01 (một) năm 06 (sáu) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 05/02/2024 và phạt tiền bị cáo 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 08/QĐ-VKSTB ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đề nghị hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 04/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư để điều tra lại theo hướng bị cáo Nguyễn Đình H3 phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự và tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Điều 201 Bộ luật Hình sự và điều tra làm rõ hành vi giúp sức, có dấu hiệu đồng phạm về tội Cướp tài sản của Lê Minh Q.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình hủy Bản án sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 04/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình để điều tra, xét xử lại theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình:
    1. Đối với hành vi Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2022 đến tháng 01/2023, bị cáo Nguyễn Đức H đã có hành vi cho chị Trần Thị Ngọc A vay tổng số tiền 80.000.000 đồng, với lãi suất từ 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01ngày đến 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01ngày, tương ứng với lãi suất là 108%/năm, đến 182,5%/năm, gấp 5,4 đến 9,1 lần so với lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính tổng số tiền 84.443.016 đồng. Hành vi cho vay với mức lãi suất gấp 5,4 đến 9,1 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế. Do đó, bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
    2. Đối với tội Cưỡng đoạt tài sản thấy: Xuất phát từ việc chị Ngọc A còn nợ bị cáo H cả tiền lãi và gốc là 100.000.000 đồng, bị cáo đòi nhiều lần, nhưng do gặp khó khăn, chồng chị Ngọc A bị đột quỵ, ốm đau nên chưa trả được, chị Ngọc A hứa là sẽ trả. Chiều ngày 31/01/2024, bị cáo bảo Lê Minh Q “Tí nữa đến nhà Ngọc A để lấy tiền cho anh” Q đồng ý. Sau đó Q đến nhà chị Ngọc A đòi tiền, Q đã chở chị Ngọc A ra khu vực đường D thuộc địa phận xã V, huyện V, sau đó Q đã điện thoại cho H đến gặp chị Ngọc A. Khi gặp chị Ngọc A, bị cáo đã có hành vi dùng tay, chân đấm, đá vào đầu, mặt, người chị Trần Thị Ngọc A gây thương tích 3%, vừa đánh bị cáo vừa nói đòi tiền “Tiền nợ của tao 100.000.000 đồng đâu”, do sợ hãi và bị bị cáo đánh nên chị Ngọc A đã nói “Giờ mới có 30.000.000 đồng”. Bị cáo bảo Q chở chị Ngọc A về nhà sạc pin điện thoại để chuyển khoản lấy 30.000.000 đồng; hành vi dùng vũ lực tấn công chị Trần Thị Ngọc A ép trả số tiền 100.000.000 đồng, buộc chị Ngọc A phải về nhà chuyển khoản trả trước 30.000.000 đồng đã phạm vào tội “Cướp tài sản” quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự. Bản án sơ thẩm nhận định chị Ngọc A đồng ý lên xe của Q và để Q chở về nhà thể hiện bị cáo có hành vi uy hiếp về tinh thần để bắt chị Ngọc A phải trả tiền cho mình nhưng chị Ngọc A chỉ bị khống chế về mặt tinh thần; chưa đến mức bị tê liệt ý chí, không thể chống cự được, chị Ngọc A vẫn còn khoảng thời gian dài suy nghĩ, cân nhắc khi quyết định và tuyên bố bị cáo phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự là không đúng tội danh.
    3. Đối với hành vi của Lê Minh Q thấy: Lê Minh Q là anh em quen biết xã hội và làm cho quán ăn của bị cáo. Q biết chị Ngọc A có nợ tiền bị cáo và đã nhiều lần đến nhà chị Ngọc A đòi tiền hộ. Ngày 31/01/2024, bị cáo bảo Q đi đòi tiền hộ, Q đồng ý, khi đến nhà chị Ngọc A, Q hỏi “Có tiền trả chưa”, Q chở chị Ngọc A ra khu vực đường D thuộc địa phận xã V, huyện V, Q đã điện thoại cho bị cáo đến gặp chị Ngọc A, khi gặp chị Ngọc A, Q chứng kiến việc bị cáo đánh chị Ngọc A để đòi tiền, sau khi chị Ngọc A đồng ý trả 30.000.000 đồng trước, Q là người chở chị Ngọc A về nhà lấy tiền và bảo chị Ngọc A chuyển tiền vào tài khoản của Q, sau đó Quang thông B cho H biết là đã lấy được tiền và chuyển trả lại thông qua tài khoản của vợ bị cáo H. Hành vi giúp sức của Q có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo H về tội Cướp tài sản. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chưa điều tra, xử lý triệt để và không xem xét hành vi của Q là đồng phạm tội Cướp tài sản với bị cáo H, vai trò là người giúp sức là bỏ lọt người phạm tội.
  2. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 01 (một) năm 06 (sáu) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 05/02/2024 và phạt tiền bị cáo 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước là không đúng theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, hình phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác.
  3. Từ những nhận định trên, cần hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại như kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
  2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình để điều tra lại.

Nơi nhận

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Trại Tạm giam;
  • - TAND huyện Vũ Thư;
  • - CA-VKS-THADS Huyện Vũ Thư;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu HCTP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Phạm Ngọc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HS-PT ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự phúc thẩm về tội cưỡng đoạt tài sản và cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 93/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cưỡng đoạt tài sản và Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger