Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 93/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26-11-2024

“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Ninh; Ông Trương Bế Thiện

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Ngọc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 534/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03/10/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04/11/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Vũ Thế C, sinh năm 1971

Địa chỉ: Xóm B, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên

Bị đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1980

Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

(anh C có mặt; chị N vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ly hôn và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn anh Vũ Thế Công trình bày: Tôi kết hôn với chị Trần Thị N vào năm 2010. Trước khi cưới có được tìm hiểu và lấy nhau tự nguyện. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi cưới vợ chồng về sống tại gia đình nhà tôi xóm B, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Đến năm 2015 do tôi làm ăn thua lỗ, tôi đi làm ăn ở trên Cao Bằng ít về gia đình, một năm tôi về nhà một lần, vợ chồng ít quan tâm đến nhau. Năm 2017 thì chị N đã đưa con gái về nhà bố mẹ đẻ ở xóm Đ, xã P, thành phố T. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho tới nay, tôi có lên nhà bảo chị N về chung sống với tôi, nhưng chị N không về. Đến nay, tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn. Vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Trần Thị N. Về con chung: Tôi và chị N có 01 con chung là Vũ Thị Ngọc A, sinh ngày 23/02/2011. Hiện tại cháu A đang ở cùng chị N. Khi ly hôn, tôi nhất trí để chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu A cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tôi xin cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Lời khai của bị đơn chị Trần Thị N trình bày: Tôi kết hôn với anh Vũ Thế C vào năm 2010. Trước khi cưới có được tìm hiểu và lấy nhau tự nguyện. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi cưới vợ chồng về sống tại gia đình nhà chồng xóm B, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Đến năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C chơi bời cờ bạc, về nhà chửi bới vợ con. Sau đó anh C bỏ đi làm ăn, đến năm 2021 thì anh C mới trở về gia đình. Đến nay, tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau, anh C xin ly hôn tôi nhất trí thuận tình ly hôn. Về con chung: Tôi và anh C có 01 con chung là Vũ Thị Ngọc A, sinh ngày 23/02/2011. Khi ly hôn, tôi có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tôi yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết, Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên do chị N vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt, do đó vụ án không thể tiến hành hòa giải được nên phải đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.

Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Vũ Thế C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với chị Trần Thị N. Về con chung: Anh C nhất trí để chị N trực tiếp nuôi con chung là Vũ Thị Ngọc A, anh C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung: Anh C không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Chị N vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đại diện Viện kiểm sát nhất trí và không ý kiến gì.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX: Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 143, 147, 227, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 357 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn của anh Vũ Thế C.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Vũ Thế C được ly hôn chị Trần Thị N

2. Về nuôi con khi ly hôn: Giao con chung Vũ Thị Ngọc A, sinh ngày 23/02/2011 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đồng/ tháng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Anh C được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản: Không xem xét.

Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra, công bố công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến của đương sự, của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo nội dung đơn khởi kiện anh Vũ Thế C yêu cầu Toà án giải quyết về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với chị Trần Thị N, sinh năm 1980, nơi cư trú: Xóm Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ vào Điều 51, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xác định đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”; Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

[2]. Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại phiên toà: Nguyên đơn anh Vũ Thế C có mặt; bị đơn chị Trần Thị N vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt, Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị N là đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về nội dung vụ án:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa anh Vũ Thế C và chị Trần Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, lấy nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận bảo vệ. Quá trình chung sống giữa anh C và chị N phát sinh mâu thuẫn. Phía anh C xác định do anh đi làm ăn ít về gia đình, ít quan tâm đến gia đình, chị N đưa con về nhà ngoại sinh sống, vợ chồng sống ly thân thời gian dài. Phía chị N xác định mâu thuẫn do anh C chơi bời, chửi bới vợ con. Sau đó anh C đi làm ăn, bỏ bê gia đình, không quan tâm gì đến vợ con. Đến nay anh C, chị N đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và nhất trí ly hôn.

Theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về Tình nghĩa vợ chồng:

1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.

Hội đồng xét xử xét thấy mẫu thuẫn vợ chồng giữa anh C và chị N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thực tế là anh chị đã có thời gian sống ly thân không còn quan tâm gì tới nhau và đã chấm dứt mọi quan hệ, do đó xét đề nghị xin ly hôn của anh C là có căn cứ cần áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận đề nghị của anh C, cho anh Vũ Thế C được ly hôn chị Trần Thị N là phù hợp.

[3.2]. Về nuôi con khi ly hôn: Anh C và chị N đều xác định vợ chồng có 01 con chung là Vũ Thị Ngọc A, sinh ngày 23/02/2011. Quá trình giải quyết, anh C nhất trí để chị N trực tiếp nuôi con chung khi vợ chồng ly hôn. Phía chị N có nguyện vọng nuôi con chung khi vợ chồng ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy hiện tại cháu Vũ Thị Ngọc A đang sinh sống cùng chị N tại xóm Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Mặt khác, cháu A cũng có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn, do đó cần giao cháu Vũ Thị Ngọc A cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

- Về quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung: Anh C được quyền đi lại thăm nom chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung mà không ai được cản trở.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án, chị N yêu cầu anh C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng. Tại phiên toà, anh C nhất trí cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng. Do đó cần buộc anh C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

- Về thời gian cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử ấn định thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày xét xử sơ thẩm 26/11/2024 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

[3.3]. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn được chấp nhận, nhưng nguyên đơn anh Vũ Thế C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo mức án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Anh Vũ Thế C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.

[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 và Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 8, 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 357 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn của anh Vũ Thế C.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Vũ Thế C được ly hôn chị Trần Thị N

2. Về nuôi con khi ly hôn: Giao con chung Vũ Thị Ngọc A, sinh ngày 23/02/2011 cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Về quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung khi ly hôn: Anh Vũ Thế C được quyền đi lại thăm nom chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Vũ Thế C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng) cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Thời gian cấp dưỡng nuôi con được tính từ ngày xét xử sơ thẩm 26/11/2024.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi xét thấy cần thiết hoặc do điều kiện sống có sự thay đổi, vợ chồng có thỏa thuận khác phù hợp với quy định pháp luật và vì lợi ích của con chung, các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu hoặc thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản: Không xem xét.

4. Về án phí. Anh Vũ Thế C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con nộp vào ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003206, ngày 03/10/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Vũ Thế C có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn chị Trần Thị N vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND TP Thái Nguyên;
  • - Chi Cục THADS TP Thái Nguyên;
  • - T/ báo cho UBND xã Bá Xuyên;
  • - Lưu hồ sơ + VP

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Mừng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HNGĐ-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 93/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger