|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 93/2024/HS-ST Ngày: 26 – 11 – 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Vi Anh Tú.
2/ Ông Phan Bá Lịch.
Thư ký phiên toà: Bà Vị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vi Ngọc Thái – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2024/TLST – HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1989 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn N (đã chết) và bà Lìm Thị D; có vợ là Lương Thị H và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2024 đến nay. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N – Công tác tại Chi nhánh trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2, thị xã T, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Là người nghiện chất ma túy nên vào sáng ngày 26/7/2024 Vi Văn T một mình đi bộ từ nhà theo đường rừng đến khu vực đập thủy điện xã C thuộc bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An với mục đích tìm người bán ma túy để mua sử dụng. Tại đồi keo gần đập thủy điện T gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, lai lịch, địa chỉ qua trao đổi biết người đàn ông có ma túy bán T hỏi mua với số tiền 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) và được người đàn ông đồng ý bán cho 02 (hai) gói bên trong có chứa chất rắn màu trắng và 01 (một) gói viên nén màu hồng được bọc bên ngoài bằng mảnh bao nilon màu hồng, T cất giấu 02 (hai) gói chứa chất rắn màu trắng vào bì sắc rắn màu trắng, có in tiếng việt mang theo, gói ma túy đựng viên nén màu hồng bỏ vào túi áo trước ngực bên phải đang mặc sau đó đi về, trên đường về T lấy viên nén màu hồng ra bẻ lấy một phần sử dụng nửa viên còn lại bỏ vào túi áo. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày khi T đi đến khu vực bản L, xã C, huyện Q thì bị lực lượng Công an huyện Q phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi áo ngực bên phải đang mặc 01 (một) gói có chứa nửa viên nén chất rắn màu hồng được bọc bên ngoài bằng mảnh bao nilon màu hồng (nghi là ma túy), thu trong túi sắc rắn đang mang trên người 02 (hai) gói chất rắn màu trắng, mỗi gói đều được bọc bằng hai lớp, lớp ngoài cùng bằng mảnh bao nilon màu hồng, lớp bên trong bằng mảnh bao nilon màu xanh (nghi là ma túy).
Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 27/7/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An, xác định: Sau khi mở niêm phong, bên trong gói niêm phong có 01 (một) gói chất rắn màu hồng bọc bằng mảnh bao nilon màu hồng (nghi là ma túy), ký hiệu là M1 có khối lượng cả bì là 0,15g (Không phẩy mười lăm gam), khối lượng chất rắn màu hồng sau khi trừ bì là 0,08g (Không phẩy không tám gam), cán bộ kỹ thuật hình sự trích toàn bộ chất rắn màu hồng nêu trên đưa đi giám định tính chất ma túy; 01 (một) gói chất rắn màu trắng được bọc bằng hai lớp, lớp ngoài cùng bọc bằng mảnh bao nilon màu hồng, lớp trong cùng bọc bằng mảnh bao nilon màu xanh (nghi là ma túy), ký hiệu là M2 có khối lượng cả bì là 2g (Hai gam), khối lượng chất rắn màu trắng sau khi trừ bì là 1,4g (Một phẩy bốn gam), cán bộ kỹ thuật hình sự trích lấy 0,2g (Không phẩy hai gam) chất rắn màu trắng nêu trên đưa đi giám định tính chất ma túy; 01 (một) gói chất rắn màu trắng được bọc bằng hai lớp, lớp ngoài cùng bọc bằng mảnh bao nilon màu hồng, lớp trong cùng bọc bằng mảnh bao nilon màu xanh (nghi là ma túy), ký hiệu là M3 có khối lượng cả bì là 3,3g (Ba phẩy ba gam), khối lượng chất rắn màu trắng sau khi trừ bì là 2,8g (Hai phẩy tám gam), cán bộ kỹ thuật hình sự trích lấy 0,2g (Không phẩy hai gam) chất rắn màu trắng nêu trên đưa đi giám định tính chất ma túy.
Số vật chứng còn lại bao gồm 3,8g (Ba phẩy tám gam) chất rắn màu trắng, 03 mảnh bao nilon màu hồng, 02 mảnh bao ni lon màu xanh và vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo quy định.
Kết luận giám định số: 793/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 02/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “- Mẫu chất rắn màu hồng (ký hiệu M1) thu giữ của Vi Văn T gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine.
- Số chất rắn màu hồng thu giữ của Vi Văn T có khối lượng là 0,08g (không phẩy không tám gam).
- 02 (hai) mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu M2, M3) thu giữ của Vi Văn T gửi đến giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- Số chất rắn màu trắng thu giữ của Vi Văn T có tổng khối lượng là 4,2g (bốn phẩy hai gam).”
Bản cáo trạng số: 93/CT-VKS-QC ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Vi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vi Văn T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam. Buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ngoài ra đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy những vật chứng còn lại bao gồm 3,8g (Ba phẩy tám gam) chất ma túy (Heroine), 03 mảnh bao nilon màu hồng và 02 mảnh bao ni lon màu xanh cùng vỏ bao niêm phong cũ được niêm phong theo quy định.
Bản bào chữa của người bào chữa cho bị cáo: Không có ý kiến tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc đến các yếu tố bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, không biết chữ nên có trình độ nhận thức về pháp luật hạn chế, bị cáo phạm tội lần đầu và nhằm mục đích để thỏa mãn cơn nghiện, không nhằm mục đích vụ lợi, gia đình hoàn cảnh khó khăn con nhỏ, trước khi phạm tội có nhân thân tốt và trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Từ những phân tích đã nêu đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hợp lý. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đối với phần xử lý vật chứng và án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, không bổ sung thêm vào bản bào chữa cho mình. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:
Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 26/7/2024 trong lúc tuần tra làm nhiệm vụ tại khu vực bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Lực lượng Công an huyện Q tiến hành kiểm tra hành chính bắt quả tang bị cáo Vi Văn T có hành vi cất giấu 0,08g (không phẩy không tám gam) ma túy Methamphetamine và 4,2g (bốn phẩy hai gam) ma túy Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi tàng trữ 4,28g (bốn phẩy hai mươi tám gam) tổng trọng lượng hai loại ma túy để sử dụng của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, theo như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và bệnh truyền nhiễm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của chất ma túy cũng như việc thực hiện các hành vi trái phép liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, để nhằm thỏa mãn nhu cầu bất hợp pháp của cá nhân đã cố ý phạm tội, nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo được giáo dục, cải tạo, có thời gian sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung, nhưng khi cân nhắc hình phạt đối với bị cáo cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng để xem xét đưa ra mức án phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, thể hiện sự khoan hồng, chính sách nhân đạo của pháp luật nhà nước ta.
[4] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong giai đoạn điều tra bị cáo cung cấp tài liệu, chứng cứ là bản sao Huân chương chiến sĩ giải phóng của ông Lương Văn T2 để được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ, tuy nhiên giữa ông T2 và bị cáo chỉ có mối quan hệ bố vợ với con rể, không có quan hệ huyết thống, chăm sóc, nuôi dưỡng, thờ cúng, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự theo quy định.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện, bị cáo là lao động tự do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hiện đang bị tạm giam, không có tài sản riêng và khả năng thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo Cơ quan điều tra Công an đã tiến hành điều tra, xác minh về lai lịch người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại khu vực đồi keo gần đập thủy điện C nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
[7] Về vật chứng: Khối lượng ma túy heroine còn lại 3,8g (Ba phẩy tám gam) là chất thuộc danh mục Nhà nước cấm sản xuất, tàng trữ, sử dụng, lưu hành dưới mọi hình thức do đó cần tịch thu tiêu hủy, 03 mảnh bao nilon màu hồng, 02 mảnh bao ni lon màu xanh và vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo quy định là những vật không có giá trị và giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vi Văn T 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/7/2024.
-
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy một phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước ghi “Vật chứng còn lại thuộc vụ Vi Văn T – Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 26/7/2024 tại xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An”, bên trong có 3,8g (Ba phẩy tám gam) chất ma túy (Heroine), 03 mảnh bao nilon màu hồng, 02 mảnh bao ni lon màu xanh và vỏ bao niêm phong cũ. (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 06/11/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An).
-
Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Vi Văn T chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Văn Đông |
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy (illegal storage of narcotics)
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Illegal storage of narcotics)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T có hành vi mua và cất giấu 03 gói ma túy, gồm 02 gói ma túy Heroine có tổng khối lượng 4,2 gam và 01 gói ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,08 gamvới mục đích để sử dụng dần.
