|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 93/2024/HS-ST Ngày: 21 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Hà, bà Nguyễn Thị Thìn
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thúy Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở; Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2024/TLST - HS ngày 31/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST - HS ngày 11/11/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1994 tại phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên
Tên gọi khác: Không. Nơi thường trú và cư trú: Tổ dân phố S, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1956 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1955; chồng: Vũ Trí T2, sinh năm 1989; con: Có 03 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 30/8/2024 đến ngày 05/9/2024; hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo T: Bà Phạm Thị T3 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (có mặt)
* Người làm chứng:
- - Bà Phạm Thị B, sinh năm 1947 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
- - Anh Ngô Văn K, sinh năm 1982 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên
- - Trần Thị T1 sinh năm 1955 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Huyền T, tự khai nghiện ma tuý. Khoảng 15 giờ ngày 30/8/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 12H1-115.88 (mượn của mẹ đẻ là bà Trần Thị T1 sinh năm 1955) đi từ nhà ở tổ dân phố S, phường D, thị xã M đến đoạn gần cầu vượt P (chiều Hà Nội - Hải Phòng) để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến trước cổng Công ty trách nhiệm hữu hạn T4 thuộc tổ dân phố P, phường D, thị xã M thì gặp và hỏi mua của một nam thanh niên không rõ tên tuổi, địa chỉ 1 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng. Nam thanh niên này chỉ cho T vị trí để ma túy trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long dưới chân cột ghi tên đường “Nguyễn Văn L” ở gần đó. T đi đến thấy vỏ bao thuốc lá T, kiểm tra bên trong có 1 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng (T biết là ma túy đá), T lấy ma túy cầm ở tay trái rồi để vỏ bao thuốc lá cùng số tiền 300.000 đồng lại, sau đó điều khiển xe đi về. Hồi 15 giờ 15 phút cùng ngày, khi T đi đến trước cổng khu trọ của nhà bà Phạm Thị B sinh năm 1947 trú tại tổ dân phố T, phường P, thị xã M thì bị Cơ quan điều tra Công an thị xã M, phối hợp cùng Công an phường N, Công an phường P kiểm tra phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tại tay trái của T 01 túi nilon dạng túi zip bên trong chứa chất tinh thể màu trắng dạng cục (niêm phong ký hiệu A); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 bên trong lắp 2 sim; 01 xe mô tô BKS 12H1-115.88. Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T, qua khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Đồng thời cho T chỉ dẫn đến vị trí mua ma túy và rà soát hình ảnh camera xung quanh nhưng không có camera nào ghi nhận lại nội dung sự việc. Kết quả xét nghiệm sinh hóa xác định: T dương tính với MET (ma túy đá).
Thông báo kết luận sơ bộ và Kết luận giám định số 582/KL-KTHS(MT) ngày 02/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu A, có khối lượng là 0,309gam, là ma túy loại Methamphetamine. Mẫu hoàn lại được được niêm phong trong một niêm phong ghi số 582/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,290 gam ma túy loại Methamphetamine; 01 túi nilon màu trắng, 01 vỏ niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định.
Quá trình điều tra xác định xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 12H1-115.88 là tài sản của bà Trần Thị T1 là mẹ đẻ của T. Bà T1 cho T mượn xe nhưng không biết T sử dụng để đi mua ma túy; Điện thoại OPPO F9 của T nhưng không sử dụng để phạm tội. Ngày 17/10/2024 Cơ quan điều tra đã trả xe cho bà T1, trả điện thoại cho bị can. Ngoài ra T còn khai trước đó khoảng 10 ngày một mình T sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine nhưng không nhớ địa điểm đã sử dụng.
Tại bản cáo trạng số: 89/CT - VKSMH ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên đã truy tố T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Huyền T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù được trừ 06 ngày tạm giữ; bị cáo còn phải chấp hành 01 năm 05 tháng 24 ngày tù đến 01 năm 08 tháng 24 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy: 01 niêm phong ghi số 582/KL - KTHS (MT) bên trong có 0,290g ma túy loại Methamphetamine, 01 túi nilon màu trắng, 01 vỏ niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí quan điểm của Viện kiểm sát, đề nghị cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất 01 năm tù, miễn hình phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí quan điểm của người bào chữa, không tranh luận, tại phiên tòa bị cáo đã biết tác hại của ma túy, ăn năn hối hận về hành vi của mình, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Kiểm sát viên tranh luận: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với định lượng ma túy bị cáo tàng trữ cũng như tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội hành vị của bị cáo; viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.
Người bào chữa cho bị cáo giữ nguyên quan điểm. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thị xã M và điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hàovà kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, kết luận giám định cùng các vật chứng mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Với động cơ mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng nên hồi 15 giờ 15 phút ngày 30/8/2024 tại tổ dân phố T, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Nguyễn Thị Huyền T có hành vi tàng trữ trái phép 0,309 gam Methamphetamine để sử dụng thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M phối hợp cùng Công an phường N, Công an phường P bị bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.
Hành vi của bị cáo cất giấu trái phép chất ma tuý (Methamphetamine) trong người (dưới 05gam) nhằm mục đích sử dụng đã thoả mãn đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật. Bị cáo phạm tội độc lập, tội phạm đã hoàn thành. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội. Việc sử dụng ma túy là rất nguy hiểm cho sức khỏe, làm giảm sức lao động và là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với hành vi của bị cáo.
Đối với việc T khai đối tượng là nam thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ bán ma túy cho T; ngoài lời khai của T, không còn chứng cứ nào khác nên tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ giải quyết sau nên Tòa án không đặt ra để xét. Đối với việc T khai sử dụng ma túy Methamphetamine trước ngày 30/8/2024 nhưng không nhớ địa điểm đã sử dụng, ngoài lời khai của T không còn tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý nên Tòa án không xét.
[3]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý đối với bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; bị cáo thuộc hộ nghèo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Qua xem xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo; Hội đồng xét xử nhận thấy: Mặc dù bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu nhưng hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy, khi cân nhắc hình phạt đối với bị cáo, hội đồng xét xử nhận thấy cần bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định theo như nội dung đề nghị tại bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp và mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, thuộc hộ nghèo. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về vật chứng: Đối với 01 niêm phong ghi số 582/KL - KTHS (MT) bên trong có 0,290g ma túy loại Methamphetamine là vật cấm lưu hành; 01 túi nilon màu trắng, 01 vỏ niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với xe mô tô nhãnh hiệu Yamaha BKS 12H1 - 115.88 của bà T1, bà T1 không biết bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy; 01 điện thoại di động Oppo quá trình điều tra xác định bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho bị cáo điện thoại và trả lại bà T1 xe mô tô là đúng quy định.
[6]. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Huyền T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Huyền T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù được trừ 06 (sáu) ngày tạm giữ; bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 05 (năm) tháng 24 (hai mươi tư) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (một) niêm phong ghi số 582/KL - KTHS (MT) bên trong có 0,290g (Không phẩy, hai trăm chín mươi gam) ma túy loại Methamphetamine, 01 (một) túi nilon màu trắng, 01 (một) vỏ niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Thị Huyền T không phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trang249
