|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 93/2024/HS-ST
Ngày: 14-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Huy Hùng.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Trung Hoan - Phó Giám đốc Trung tâm y tế thành phố Uông Bí.
Bà Phạm Thị Dung - Nguyên Phó trưởng Phòng giáo dục và đào tạo thành phố Uông Bí.
Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Mây - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Viết Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Triệu Văn L, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 12/02/2007 tại U, Quảng Ninh (khi phạm tội 17 tuổi 04 tháng 02 ngày). Nơi cư trú: thôn K, xã T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn C và bà Bàn Thị P; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
Người đại diện theo pháp luật đồng thời là người bào chữa cho bị cáo: ông Triệu Văn C (bố đẻ bị cáo); địa chỉ: thôn K, xã T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Bị hại: anh Triệu Thế Â, vắng mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: anh Triệu Văn M và anh Đặng Văn P1, đều vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 14/6/2024, anh Triệu Thế  (sinh năm 2004, trú tại thôn K, xã T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh) rủ anh Bàn Duy K và anh Đặng Văn P1 hẹn gặp Triệu Văn L tại thôn K, xã T, thành phố U để giải quyết mâu thuẫn. Khi đi gặp Â, L lấy con dao trong gian bếp của gia đình giấu ở phía trước bụng, Triệu Văn M (sinh ngày 25/02/2009, em ruột của L) thấy L đi ra ngoài nên đi cùng đến điểm hẹn để nói chuyện. Tại đây, anh  thấy L kẹp con dao ở chun quần nên đã dùng tay phải tát 01 cái vào má của L rồi bảo L cất dao đi xong ra nói chuyện tiếp. L về nhà cất dao nhưng lại xuống gian bếp của gia đình lấy 01 con dao khác dài khoảng 30 cm, cán bằng nhựa màu đen dài khoảng 10 cm, lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, bản rộng 04 cm, mũi dao cong, kẹp vào chun quần ở phía trước bụng bên trái, lấy áo đang mặc chùm lên rồi đi đến gặp anh Â. Khi gặp nhau hai bên tiếp tục xảy ra xích mích, anh  dùng tay phải tát 01 cái vào má bên trái, đấm 01 phát vào vùng đầu và ghì đầu L xuống, thấy vậy cháu M lao đến dùng tay đánh anh Â. Do bị đánh nên L dùng tay phải lấy con dao kẹp ở chun quần chém nhiều nhát vào vùng lưng và bộ phận khác trên cơ thể anh Â. Lúc này anh K vào can ngăn M, còn L và  tiếp tục giằng co, L dùng dao chém liên tiếp về phía anh  trúng vào vai, sườn, mặt, đầu. Sau đó anh  bỏ chạy về phía xã T, Đ; L tiếp tục cầm dao đuổi theo anh  khoảng 10 mét thì dừng lại rồi cùng M về nhà. Trên đường về, L vứt con dao đã chém anh  vào bụi cây ở trước cửa căn nhà hoang gần nhà mình, còn anh K và anh P1 đưa  đi cấp cứu tại bệnh viện V - Thụy Điển U.
* Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 613A/KLTTCT-TTPY ngày 12/7/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y đối với Triệu Thế Â kết luận:
- Các kết quả chính:
- + Sẹo vết thương phần mềm vùng thái dương đỉnh phải bờ mép sắc gọn, kích thước nhỏ;
- + 02 sẹo vết thương phần mềm cánh mũi trái; môi trên bên trái bờ mép sắc gọn kích thước nhỏ;
- + 03 sẹo vết thương phần mềm mặt sau vai trái; vùng lưng tương ứng khoang liên sườn 9-10 đường nách sau bên trái; vùng sườn lưng trái, bờ mép các vết thương sắc gọn, kích thước lớn và trung bình;
- + Sẹo vết thương phần mềm mặt trong khuỷu tay phải, bờ mép sắc gọn kích thước nhỏ;
- Kết luận: Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Triệu Thế Â tại thời điểm giám định là: 14%. Cơ chế tổn thương do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.
Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số: 613B/KLVGTT- TTPY ngày 12/7/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y đối với 01 con dao dài 30 cm; có cán bằng nhựa màu đen, bản rộng 03 cm; lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, bản rộng 04 cm, mũi dao cong, cũ đã qua sử dụng, kết luận:
- - Phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, bản rộng 04 cm có 01 lưỡi sắc là vật sắc.
- - Cán dao bằng nhựa là vật tày.
- - Đoạn lưỡi dao bằng kim loại màu trắng có 01 lưỡi sắc gây ra thương tích với đặc điểm thương tích của vật sắc.
- - Các vết thương của anh  do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.
- - Căn cứ cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U gửi đến phù hợp với đặc điểm tổn thương, xác định con dao gửi giám định có thể gây ra được thương tích cho anh Â.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Triệu Văn L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.
Bị hại vắng mặt tại phiên toà nhưng lời khai có trong hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Triệu Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố U giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về trách nhiệm dân sự: đã được giải quyết trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nên không đề cập. Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu huỷ 01 con dao dài 30 cm, bản rộng 04 cm có cán bằng nhựa màu đen; đối với 01 điện thoại di động iPhone màu xanh gắn sim số 0333.323.409 là của anh Triệu Thế Â, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh  nên không đề cập.
Người đại diện theo pháp luật đồng thời là người bào chữa cho bị cáo không tranh luận và không có ý kiến gì.
Bị cáo không tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo, người đại diện hợp pháp đồng thời là người bào chữa cho bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống và Kết luận giám định vật gây thương tích của Trung tâm pháp y – Sở Y, với sơ đồ và bản ảnh hiện trường, với vật chứng vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 03 giờ 30 phút ngày 14/6/2024, tại thôn K, xã T, thành phố U, do có mâu thuẫn trong sinh hoạt, Triệu Văn L có hành vi cầm dao chém anh Triệu Thế Â gây thương tích, tổn hại 14% sức khoẻ. Hành vi của bị cáo Triệu Văn L đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự, gây dư luận xấu đến cộng đồng dân cư. Chỉ vì những mâu thuẫn trong cuộc sống và ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã chuẩn bị hung khí nguy hiểm, gây thương tích cho bị hại. Vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
- Tình tiết tăng nặng: không có.
- Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người còn trẻ tuổi nhưng không chịu học hành, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, không chịu nghe lời dạy bảo của cha mẹ, chỉ vì mâu thuẫn trong cuộc sống mà bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho bị hại nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên cũng cần xem xét cho bị cáo là người dân tộc thiểu số, tuổi còn trẻ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo phạm tội có một phần lỗi của bị hại nên cho bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
[4] Về hủy bỏ biện pháp ngăn chặn: Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 90A/2024/HSST-LCCT ngày 21/10/2024 của Toà án nhân dân thành phố Uông Bí và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 1126/QĐ-ĐTTH ngày 14/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U đối với bị cáo cần được hủy bỏ.
[5] Về trách nhiệm dân sự: trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng, bị hại không còn ý kiến gì khác nên không xem xét, đề cập.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 con dao dài 30 cm, cán bằng nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp và bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8] Các tình tiết khác trong vụ án: Đối với Triệu Văn M có hành vi dùng tay đánh anh Triệu Thế Â, M là người chưa đủ 16 tuổi, Cơ quan điều tra đã đề nghị Ủy ban nhân dân xã T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường theo quy định của pháp luật.
Đối với Triệu Thế  có hành vi dùng tay đánh Triệu Văn L nhưng không để lại thương tích, L không có yêu cầu, đề nghị gì đối với anh Â. Hành vi của  chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2 và 5 Điều 65; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Triệu Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Triệu Văn L 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
2. Về huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 90A/2024/HSST-LCCT ngày 21/10/2024 của Toà án nhân dân thành phố Uông Bí và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 1126/QĐ-ĐTTH ngày 14/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 30 cm; cán bằng nhựa màu đen, bản rộng 03 cm; lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, bản rộng 04 cm, mũi dao cong.
(Vật chứng nêu trên có tình trạng, đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo Triệu Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp Ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện theo pháp luật đồng thời là người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Huy Hùng |
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Triệu Văn L- Cố ý gây thương tích
