|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 93/2024/HS-ST Ngày: 26/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Doanh
Các Hội thẩm nhân dân.
- + Bà Vũ Thị Ngân;
- + Bà Nguyễn Thị Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Vũ Quỳnh Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn V, sinh ngày 12/10/1990 tại huyện Q, tỉnh Thái Bình
Nơi cư trú: thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn D, sinh năm 1959 và bà: Đoàn Thị V1, sinh năm 1958; vợ: KSOR H’YƯ, sinh năm 1994, trú tại tỉnh Gia Lai (ly thân từ năm 2019); có 01 con sinh năm 2017, Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án 72/2020/HSPT ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái bình xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 6 tháng về tội “Đánh bạc”; ngày 23/6/2022 chấp hành xong thời gian thử thách; tháng 3/2021 chấp hành xong toàn bộ bản án. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 187A ngày 27/8/2021 của Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình xử phạt cảnh cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy;
Bị tạm giữ từ ngày 04/6/2024 đến ngày 10/6/2024 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên toà).
- Người chứng kiến:
- + Anh Bùi Đình T, sinh năm 1974,
- Nơi cư trú: thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình
- + Anh Vũ Viết C, sinh năm 1982,
- Nơi cư trú: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình
( anh T, anh C đều vắng mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 30 phút ngày 04/6/2024, tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phối hợp với Công an xã Q, huyện Q nhận được nguồn tin của quần chúng nhân dân, đã tiến hành xác minh nguồn tin, làm việc với Phạm Văn V, sinh năm 1990, trú tại thôn A, xã A, huyện Q, đang đi bộ một mình tại khu vực thôn L, xã Q, huyện Q. Trước sự chứng kiến của anh Bùi Đình T, sinh năm 1974, trú tại thôn B và anh Vũ Việt C1, sinh năm 1982, trú tại thôn L, đều xã Q, huyện Q, V tự giác lấy ra từ túi quần bên trái phía trước đang mặc giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt có mép cài, chứa chất bột màu trắng dạng cục (qua giám định là Heroine có khối lượng là 2,0445 gam) và khai nhận đó là túi Heroine của V mua để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra người V không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã đưa V cùng vật chứng và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an xã Q, huyện Q lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn V tại thôn A, xã A, huyện Q, không phát hiện, thu giữ gì.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Phạm Văn V khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04/6/2024, V đi bộ từ nhà ra đường, đi xe ôm đến khu vực cây xăng H1 thuộc xã Q, huyện Q mua của một người phụ nữ khoảng 45 tuổi, không biết tên, địa chỉ, 01 túi nilon chứa H với giá 1.000.000 đồng rồi giấu vào túi quần bên trái phía trước đang mặc và đi bộ tìm chỗ vắng để sử dụng. Khi đi đến đoạn đường C, thuộc thôn L, xã Q, huyện Q thì bị Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang.
Cáo trạng số 97/CT-VKSQP ngày 10/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố Phạm Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Phạm Văn V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Văn V và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng và nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không có tranh luận với Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn V tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án (bút lục số 87 - 100); phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, các biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập hồi 12 giờ 50 phút, 13 giờ 50 phút và 13 giờ 59 phút ngày 04/6/2024, tại Công an xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập hồi 16 giờ 15 phút ngày 04/6/2024 tại Phòng K Công an tỉnh T (bút lục số 07); Kết luận giám định số 822/KL - KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K, Công an tỉnh T: “Mẫu vật giám định là ma tuý, loại Heroin (Heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; có khối lượng là 2,0445 gam (hai phẩy không nghìn bốn trăm bốn mươi lăm gam). Heroine STT: 9, Danh mục IA, phụ lục kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ” (bút lục số 09); Bản tự khai và biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến: anh Bùi Đình T và anh Vũ Viết C (bút lục số 79 - 86); Cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 04/6/2024, trên đường C, đoạn thuộc thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, bị cáo Phạm Văn V đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 2,0445 gam (hai phẩy không nghìn bốn trăm bốn mươi lăm gam) Heroin, với mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248,250,251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, bởi hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận không tốt trên địa bàn nơi xảy ra vụ án. Tệ nạn ma tuý hiện nay đang là hiểm hoạ của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã từng bị xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo về tội “đánh bạc”, xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhận thức rất rõ tác hại của ma túy song vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân là thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.
[4] Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu năm 2020 bị xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội “Đánh bạc”; năm 2021 bị xử phạt cảnh cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những nhận định nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán để kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Chất ma túy thu giữ của bị cáo Phạm Văn V hoàn trả lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
[8] Về nguồn gốc số Heroine, bị cáo khai mua của người phụ nữ khoảng 45 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại khu vực cây xăng H1 thuộc xã Q, huyện Q nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, xử lý.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Do bị cáo V thuộc hộ cận nghèo căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo V được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn V 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 04/6/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 1,9592 gam (Một phẩy chín nghìn năm trăm chín mươi hai gam) Hêrôin hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì niêm phong số 822/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh T.
(Các vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 88 ngày 12/9/2024 giữa Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn V được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Phạm Văn V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/9/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Doanh |
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Văn V phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
