Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 93/2024/DS-ST

Ngày: 23/9/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Hiếu Trung;
  2. Ông Phạm Văn Út.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham dự phiên tòa: Ông Lê Văn Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 179/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 241/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Võ Hoàng V, sinh năm: 1987;
  2. Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  3. Bị đơn: 1. Ông Cao Hoàng H, sinh năm: 1962;

    2. Bà Phạm Thị T, sinh năm: 1962;

    Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

(Ông V, ông H, bà T có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 09 tháng 7 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Võ Hoàng V trình bày:

Năm 2023, ông V có cho ông H và bà T vay tiền hai lần.

Lần thứ nhất vào ngày 18/01/2023, ông H, bà T vay số tiền là 200.000.000 đồng, lãi suất là 1,5%/tháng, thời hạn hoàn trả tiền không nói rõ thời hạn vay nhưng khi ông V muốn lấy lại tiền vay thông báo cho ông H, bà T biết trước 02 tháng. Hai bên có lập giấy mượn tiền.

Lần thứ hai vào ngày 30/1/2023, ông H, bà T vay số tiền là 400.000.000 đồng, lãi suất là 1,5%/tháng, thời hạn hoàn trả tiền thì ông V báo trước cho bên vay 02 tháng và có giấy mượn tiền. Cả hai lần nhận tiền đều có mặt của ông H và bà T cùng con gái là chị N tham gia ký nhận và nhận tiền.

Từ ngày 30/10/2023, ông V đã nhiều lần yêu cầu ông H, bà T hoàn trả cho ông V số tiền 600.000.000 đồng nhưng ông H, bà T chỉ hứa hẹn, đến nay ông H, bà T vẫn chưa hoàn trả lại tiền cho ông V.

Nay, ông V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H, bà T trả cho ông V số tiền vốn đã vay là 600.000.000 đồng, lãi suất 1,5%/tháng được tạm tính đến ngày 30/6/2024 là 08 tháng, thành tiền lãi là 72.000.000 đồng. Tổng số tiền ông V yêu cầu ông H, bà T phải trả là 672.000.000 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi từ 30/6/2024 đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm. Ông V đã nhận được 09 tháng tiền lãi là 81.000.000 đồng.

Tại bản tự khai ngày 09/9/2024, ông V trình bày: ông V yêu cầu ông H, bà T trả ông V số tiền gốc 600.000.000 đồng, thời hạn bắt đầu tính lãi từ 30/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất 1,5%/tháng. Tạm tính đến ngày 09/9/2024 là 11 tháng với số tiền là 99.000.000 đồng. Tổng số tiền ông H, bà T phải trả tạm tính đến 09/9/2024 là 699.000.000 đồng.

Do ông V bận công việc và trong quá trình giải quyết vụ án đã trình bày đầy đủ nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, không có khiếu nại về sau.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, bị đơn ông Cao Hoàng H và bà Phạm Thị T trình bày:

Lời trình bày của ông V tại đơn khởi kiện ngày 09/7/2024 và bản tự khai ngày 08/8/2024 là đúng. Ông H là chồng của bà T, bà T và ông H có vay của ông V số tiền 600.000.000 đồng. Số tiền này bà T và ông H vay thành 02 lần. Lần đầu vay số tiền 200.000.000 đồng vào ngày 18/01/2023, lãi suất thoả thuận là 1,5%/tháng, thoả thuận khi ông V cần lấy lại tiền thì báo cho bà T, ông H biết trước 02 tháng để vợ chồng bà T, ông H lo tiền trả lại cho ông V. Số tiền này thì bà T, ông H không đóng lãi cho ông V từ 30/10/2023 cho đến nay, trước đó thì bà T, ông H đóng lãi đầy đủ theo thoả thuận. Lần hai vay 400.000.000 đồng, bà T, ông H vay vào ngày 30/1/2023, thoả thuận vay với lãi suất 1,5%/tháng. Thời hạn hoàn trả tiền khi ông V cần thì báo trước cho bà T, ông H biết trước 02 tháng để bà T, ông H lo tiền trả lại cho ông V. Số tiền này thì bà T, ông H cũng đóng lãi theo thoả thuận cho ông V đến ngày 30/10/2023 thì không đóng lãi nữa. Do bà T, ông H cho người khác vay tiền để đáo hạn ngân hàng nhưng người vay tiền của bà T, ông H không có khả năng trả lại nên ảnh hưởng đến tình hình tài chính của bà T, ông H.

Nay, đối với yêu cầu khởi kiện của ông V yêu cầu vợ chồng bà T, ông H trả cho ông V số tiền gốc 600.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1,5%/tháng, thời hạn tính lãi từ 30/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm thì bà T, ông H đồng ý.

Do gia đình đơn chiếc, ông H bị bệnh đi lại khó khăn cần phải có người chăm sóc nên bà T, ông H yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt; ông bà không khiếu nại về sau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các Điều 21, 26, 35, 39, 217 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề xuất giải quyết:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Hoàng V; buộc các bị đơn Cao Hoàng H và Phạm Thị T có trách nhiệm liên đới trả cho Võ Hoàng V số tiền nợ gốc là 600.000.000 đồng. Ghi nhận việc bị đơn đồng ý trả lãi cho nguyên đơn tính trên số nợ gốc 600.000.000 đồng, với mức lãi suất 1,5%/ tháng; thời gian tính lãi kể từ ngày 30/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ngày 09/7/2024, ông Võ Hoàng V khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Cao Hoàng H, bà Phạm Thị T có trách nhiệm liên đới trả số tiền 600.000.000 đồng với lãi suất 1,5%/tháng được tạm tính đến ngày 30/6/2024 là 08 tháng với tổng số tiền lãi là 72.000.000 đồng. Tổng số tiền ông V yêu cầu ông H, bà T phải trả là 672.000.000 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi từ 30/6/2024 đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm với lãi xuất 1,5%/tháng. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 463 Bộ luật dân sự. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn ông Võ Hoàng V; bị đơn ông Cao Hoàng H, bà Phạm Thị T có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc xét xử vắng mặt ông V, ông H, bà T là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Đối với yêu cầu của ông V yêu cầu ông H, bà T có trách nhiệm liên đới trả số tiền 600.000.000 đồng và tiền lãi:

Theo ông V: vào năm 2023 thì ông H, bà T có vay của ông V số tiền 600.000.000 đồng. Số tiền này ông H và bà T vay thành 02 lần. Lần đầu vay số tiền 200.000.000 đồng vào ngày 18/01/2023, lãi suất thoả thuận là 1,5%/tháng, thoả thuận khi ông V cần lấy lại tiền thì báo cho bà T, ông H biết trước 02 tháng để vợ chồng bà T, ông H lo tiền trả lại cho ông V. Bà T, ông H đóng lãi đến ngày 30/10/2023 thì không đóng nữa. Lần hai vay với số tiền 400.000.000 đồng, bà T, ông H vay vào ngày 30/01/2023, thoả thuận lãi suất vay và thời hạn trả nợ như lần đầu. Bà T, ông H cũng đóng lãi cho ông V đến ngày 30/10/2023 thì không đóng lãi nữa. Khi ông V cần tiền thông báo cho ông H, bà T trả tiền theo thỏa thuận nhưng đến nay không trả. Ông V yêu cầu ông H, bà T trả ông V số tiền gốc 600.000.000 đồng, thời hạn bắt đầu tính lãi từ 30/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất 1,5%/tháng, tạm tính đến ngày 09/9/2024 là 11 tháng với số tiền là 99.000.000 đồng. Tổng số tiền ông V buộc ông H, bà T phải trả tạm tính đến ngày 09/9/2024 là 699.000.000 đồng. Chứng cứ chứng minh là 02 “Giấy mượn tiền” (bản sao không có chứng thực) đề ngày dương lịch 18/1/2023 và dương lịch 30/1/2023.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông V: ông H và bà T thừa nhận có nợ của ông V số tiền là 600.000.000 đồng và tiền lãi. Ông H, bà T đồng ý trả cho ông V số tiền gốc 600.000.000 đồng nêu trên và tiền lãi với mức lãi suất 1,5%/tháng, thời hạn tính lãi từ 30/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm. Ông H, bà T không cung cấp chứng cứ cho Tòa án.

Xét thấy, ông V và ông H, bà T đã thống nhất được số tiền vốn và tiền lãi còn nợ. Ông H, bà T thừa nhận và đồng ý trả cho ông V số tiền 600.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1,5%/tháng, thời hạn tính lãi từ 30/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm cho ông V nên ghi nhận. Yêu cầu của ông V là có căn cứ nên được chấp nhận.

Ông V yêu cầu ông H, bà T trả cho ông V từ 30/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất 1,5%/tháng, tạm tính đến ngày 09/9/2024 là 11 tháng với số tiền là 99.000.000 đồng. Tuy nhiên, thời hạn tính lãi từ 30/10/2023 tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 23/9/2024 là 10 tháng 23 ngày với số tiền lãi là 96.930.000 đồng. Tổng cộng, số tiền ông H, bà T phải trả cho ông V là 600.000.000 đồng + 96.930.000 đồng = 696.930.000 đồng.

Ông V yêu cầu ông H, bà T có trách nhiệm liên đới trả nợ cho ông số tiền nêu trên. Đối với yêu cầu của ông V, ông H và bà T đồng ý nên ghi nhận. Ông H, bà T phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông V số tiền 696.930.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3] Về án phí: do ông H, bà T là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Buộc ông Cao Hoàng H và bà Phạm Thị T phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông Võ Hoàng V số tiền là 696.930.000đ (Sáu trăm chín mươi sáu triệu chín trăm ba mươi ngàn đồng). Trong đó: tiền vốn: 600.000.000đ (Sáu trăm triệu đồng) và tiền lãi: 96.930.000đ (Chín mươi sáu triệu chín trăm ba mươi ngàn đồng).
  2. Về án phí: ông Cao Hoàng H và bà Phạm Thị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Hoàn trả cho ông Võ Hoàng V số tiền tạm ứng án phí là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002901 ngày 25/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

  4. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Chi cục THA DS huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Lê Thị Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/DS-ST ngày 23/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 93/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Hoàng V tranh chấp hợp đồng vay Cao Hoàng H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger