Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VÂN HỒ

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 93/2024/HSST.

Ngày: 12 – 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Lương Hữu và ông Quách Công Cầm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Tráng A Trư - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2024/TLST- ST ngày 29 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Lê Minh S, tên gọi khác: Không, sinh năm 1974, tại huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nơi ĐKHKTT: Tổ C, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Lê Minh Đ, con bà Tạ Thị N (Đều đã chết); bị cáo có vợ là Lò Thị T và 02 con, con lớn sinh năm: 1991; con nhỏ sinh năm: 2001; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 22/02/2000 bị Công an thị xã S ra Quyết định xử phạt hành chính 100.000 đồng về lĩnh vực an ninh trật tự, bị cáo đã chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V từ ngày 07 tháng 6 năm 2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Mẫn Bá T1, tên gọi khác: Không, sinh năm 1996, tại huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Nơi ĐKHKTT: Thôn T, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Mẫn Bá S1, con bà Mẫn Thị X; bị cáo có vợ Nguyễn Thị Đ1 và 03 con, con lớn nhất, sinh năm 2017; con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không.

1

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 07 tháng 6 năm 2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

3. Bạc Cầm T3, tên gọi khác: Không, sinh năm 1998, tại huyện S, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT: Bản Mường Nưa, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Bạc Cầm Q (Đã chết), con bà Lò Thị L bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V từ ngày 07 tháng 6 năm 2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Văn S2, sinh năm 1986, trú tại: Thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 22 giờ 50 phút ngày 07/6/2024 tổ Công tác Công an huyện V, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại bản Lóng Luông, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La phát hiện 01 xe ô tô khách mang biển kiểm soát 99F – 00475 đang đỗ xe tại ven đường bên phải theo hướng Sơn La - Hà Nội. Tổ công tác phát hiện một người đàn ông mặc quần áo màu đen đang đi bộ từ phía đường đối diện về vị trí đỗ xe có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đến kiểm tra yêu cầu người đàn ông có gì liên quan đến chất ma túy thì tự giác giao nộp. Lúc này Lê Minh S giao nộp cho tổ công tác một vỏ bao thuốc là THĂNG LONG màu vàng, bên ngoài được cuốn lớp băng dính màu đen, bên trong bao thuốc là có một lọ nhựa màu trắng, có nắp đậy màu trắng bên trong lọ đựng 12 (mười hai) viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY mà S đang cầm ở lòng bàn tay trái và khai nhận đó là hồng phiến S mua để sử dụng. Ngoài ra tạm giữ: 600.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, thu giữ của Lê Minh S; 01 chai nhựa màu trắng; 01 quận băng dính màu đen; 01 xe ô tô nhãn hiệu THACO loại xe TB120S, Biển kiểm soát 99F - 00475; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 99000695 mang tên Ngô Văn S2; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 0531701; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc chủ xe Ngô Văn S2.

Ngày 08/6/2024, tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành cân tịnh xác định khối lượng 12 viên nén màu hồng thu giữ khi bắt quả tang Lê Minh S, Bạc C và Mẫn Bá T1 được tổng khối lượng là 1,27 gam, lấy 02 viên có khối lượng 0,20 gam làm mẫu giám định ký hiệu “S”. Mẫu giảm định ký hiệu S được bàn giao cho Phòng KTHS Công an tỉnh S tiến hành giám định chất ma tuý và loại ma tuý.

Tại kết luận giám định số 1261 ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu giám định kỳ hiệu S là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng

2

của mẫu gửi giám định là: 0,20 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,27 gam Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giảm định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lê Minh S, Mẫu Bá T2, Bạc C T3 khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 07/6/2024, Lê Minh S điều khiển xe khách giường nằm biển kiểm soát 99F-004.75 đi từ xã M, huyện S, tỉnh Sơn La cùng với hai phụ xe là B Cầm Tùng và Mẫn Bá T1 chở khách đi tuyến Sơn La - Bắc Ninh, Bắc Giang. Khi S điều khiển xe đến khu vực quán H, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La thì dừng lại cho hành khách nghỉ uống nước. Sáu, cùng T1, T3 ngồi uống nước tại quán, cả ba người ngồi cùng bàn lúc này S rủ T1 và T3 cùng nhau góp tiền mua hồng phiến về chia nhau sử dụng T1 đồng ý, T1 nói lại với S, S biết chỗ nào có thì gọi mua, còn T3 lúc này đang sạc điện thoại nên không để ý. Sau khi nghỉ một lúc thì mọi người lên xe, khi đi được khoảng 05 phút thì S lấy điện thoại gọi vào số 0347.042.xxx là số của một người đàn ông khoảng 50 tuổi trước đây là hành khách Sáu đón ở khu vực xã L, huyện V, S xin số và lưu là “Hàng MC" để hỏi mua ma tuý. Sáu hỏi mua 10 viên hồng phiến người đàn ông trả lời 10 viên là 600.000 đồng và nói lại mua lần đầu thì cho thêm mấy viên nữa, S đồng ý. S nói lại với T1 là 10 viên giá 600.000 đồng và được cho thêm mấy viên nữa thì T1 đồng ý, do T3 đang gọi điện cho khách nên không để ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày thi xe đi đến địa phận huyện Y, tỉnh Sơn La, S dừng xe cho khách xuống nghỉ ăn cơm. Lúc này S, T3 và T1 cùng ngồi vào bàn uống nước T1 nói với T3 là S hỏi mua được hồng phiến rồi nhưng mai về đến bến xe mới chia nhau sử dụng, T3 đồng ý và thống nhất mỗi người góp 200.000 đồng, Sau đó thì mọi người lên xe S điều khiển xe đến địa phận huyện M, tỉnh Sơn La thì S gọi điện thoại cho người đàn ông bán ma túy là S đã đến M rồi gặp nhau ở đâu, người đàn ông nói với S là người đàn ông để ma tuý trong lọ và cho vào bao thuốc lá Thăng L1 để ở chân cột mốc H9-163 thuộc địa phận bản L, xã L, huyện V, khi lấy hồng phiến thì để tiền ở đó cho người đàn ông, S đồng ý. Lúc này T1 đang ngủ cuối xe nên S bảo T3 xuống gọi T1 dậy để lấy tiền mua ma tuý, T1 và T3 cùng lên ngồi cạnh ghế lái lúc này T1 đưa cho T3 số tiền 600.000 đồng, bao gồm 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Do lúc này thời tiết ở ngoài đang mưa nên S bảo T3 lấy băng dính đen ở mặt táp lô trên xe cuộn tròn tiền lại, sau khi cuộn tròn xong T3 đưa cho S cầm. Sau đó T1 và T3 lấy chai nhựa ra để làm ống điếu, khi S điều khiển xe đến cột mốc H9 – 163 thuộc địa phận bản Lóng Luông, xã L thì dừng xe bên phải đường theo hướng Sơn La - Hà Nội. Khi xe dừng S xuống xe và đi vòng ra đằng sau xe sang bên đường đến cột mốc H9 – 163 Sáu thấy ở chân cột mốc có 01 vỏ bao thuốc là Thăng Long bên trong có 01 lọ nhựa màu trắng bên trong lọ nhựa đựng các viên hồng phiến. Sau khi cầm ma tuý lên Sáu để tiền đã cuộn băng dính bên ngoài vào vị trí S vừa lấy ma tuý để trả cho người đàn ông đã bán ma tuý cho S. Khi S đang cầm ma tuý vừa đến cửa xe ô tô khách Sáu điều khiển thì có tổ công tác Công an huyện V đến kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.

3

Tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, truy tố Lê Minh S, Mẫu Bá T2, Bạc C về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo: Lê Minh S, Mẫu Bá T2, Bạc C T3 phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Lê Minh S từ 24 đến 30 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử phạt bị cáo Mẫu Bá T2 từ 24 đến 30 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bạc Cầm T3 từ 24 đến 30 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 BLTTHS.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vật chứng còn lại 1,07 gam Methamphetamine + Phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 03 phong bì niêm phong test thử ma tuý đối với Lê Minh S, Mẫn Bá T1 và Bạc Cẩm T4; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 trai nhựa màu trắng.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 600.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 máu đen kèm theo số thuê bao 0979154788.

- Ghi nhận việc cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Ngô Văn S2 01 chiếc xe khách BKS: 29H-004.75, cùng giấy tờ liên quan.

Về án phí: Đối với bị cáo Lê Minh S và Mẫn Bá T1 căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Buộc các bị cáo Lê Minh S và Mẫn Bá T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Đối với bị cáo Bạc Cầm T3 là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn tại phiên tòa xin được miễn án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bạc Cầm T3.

Các bị cáo nhất trí với lời luận tội của Viện kiểm sát, không có tranh luận gì.

4

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Ngày 07/6/2024 Lê Minh S, Mẫu Bá T2, Bạc C bị phát hiện bắt quả tang có hành vi cùng nhau cất giấu, tàng trữ trái phép 1,27 gam Methamphetamine. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[2]. Tính chất hành vi của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, tàng trữ 1,27 gam Methamphetamine, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tội phạm về ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi các bị cáo, nhằm dăn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Lê Minh S là người khởi xướng, rủ Mẫu Bá T2, Bạc C cùng góp tiền để mua ma túy. Bị cáo Mẫu Bá T2, B Cầm T3 tiếp nhận ý trí, góp tiền cùng đi mua ma túy. Do vậy, các bị cáo là đồng phạm với nhau trong vụ án. Bị cáo Lê Minh S giữ vai trò chính trong vụ án, khi lượng hình căn cứ vai trò của từng bị cáo để có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[3] Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Bạc Cầm T3 có ông nội là người tham gia dân công hỏa tuyếnvà là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế, do vậy là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

Về nhân thân các bị cáo: Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức biết rõ tác hại của ma tuý là nhà nước cấm, coi thường pháp luật, cố tình phạm tội nghiêm trọng. Bị cáo Lê Minh S đã từng bị Công an thị xã S ra Quyết định xử phạt hành chính 100.000 đồng về lĩnh vực an ninh trật tự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

5

[5]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Ngô Văn S2 vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điều 192 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Ngô Văn S2 vắng là đúng quy định.

[6]. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vật chứng còn lại 1,07 gam Methamphetamine + Phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 03 phong bì niêm phong test thử ma tuý đối với Lê Minh S, Mẫn Bá T1 và Bạc Cẩm T4; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 trai nhựa màu trắng.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 máu đen kèm theo số thuê bao 0979154788, các bị cáo dùng để liên lạc đi mua ma túy về sử dụng do vậy tịch thu sung ngân sách Nhà Nước;

Đối với số tiền 600.000 đồng thu giữ của các bị cáo là tiền các bị cáo dùng vào việc mua ma túy do vậy tịch thu sung ngân sách Nhà Nước

Đối với chiếc xe khách BKS: 99F – 00475: Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Ngô Văn S2. Anh S2 ký hợp đồng thuê Lê Minh S lái xe cho anh S2 là 10.000.000, thuê Mẫn Bá T1 và Bạc C làm phụ xe. Việc Lê Minh S, Mẫn Bá T1 và Bạc Cầm T3 tàng trữ trái phép chất ma tuý anh S2 không biết và không liên quan gì. Ngày 24/6/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện V, tỉnh Sơn La đã ra quyết định trả lại chiếc xe, cùng giấy tờ liên quan cho anh S2 quản lý và sử dụng là đúng quy định của pháp luật, được chấp nhận.

Về nguồn gốc số ma tuý Lê Minh S khai nhận mua được của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, S không biết nhân thân, địa chỉ cụ thể. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V không có căn cứ để điều tra, xác mình làm rõ. Đối với số điện thoại 0347.042.xxx S khai nhận liên hệ để mua ma tuý. Quá trình điều tra, xác minh chủ thuê bao là chị Khả Thị L2, sinh năm: 1977, trú tại: Tổ dân phố V, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Chị L2 khai nhận chị L2 không được đăng ký, không sử dụng số thuê bao 0347042389, chị L2 cũng không cho ai mượn giấy chứng minh nhân dân để đăng ký số thuê bao 0347042389. Chị L2 không liên hệ với Lê Minh S và không liên quan đến hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý của Lê Minh S, Mẫn Bá T1 và Bạc C T3. Do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

6

[8]. Về án phí: Đối với bị cáo Lê Minh S và Mẫn Bá T1 căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội Buộc các bị cáo Lê Minh S và Mẫn Bá T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Bạc Cầm T3 là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn tại phiên tòa xin được miễn án phí, do vậy miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bạc Cầm T3.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đối với bị cáo Lê Minh S và Mẫn Bá T1 áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Minh S, Mẫn Bá T1, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt Lê Minh S 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2024. Không phạt bổ sung bị cáo.

Xử phạt Mẫn Bá T1 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2024. Không phạt bổ sung bị cáo.

2. Đối với bị cáo Bạc Cầm T3 áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Bạc Cầm T3, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt Bạc C T3 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2024. Không phạt bổ sung bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vật chứng còn lại 1,07 gam Methamphetamine + Phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 03 phong bì niêm phong test thử ma tuý đối với Lê Minh S, Mẫn Bá T1 và Bạc Cẩm T4;01 cuộn băng dính màu đen; 01 trai nhựa màu trắng.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 600.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 máu đen kèm theo số thuê bao 0979154788 đã qua sử dụng.

- Ghi nhận việc cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Ngô Văn S2 01 chiếc xe khách BKS: 99F – 00475, cùng giấy tờ liên quan.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 112 ngày 12/9/2024 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ.

4. Về án phí:

7

- Đối với bị cáo Bạc C Tùng căn điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Miễn án phí cho bị cáo Bạc Cầm T3.

- Đối với bị cáo Lê Minh S và Mẫn Bá T1 căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an;
  • - Trại giam;
  • - THA hình sự;
  • - THA dân sự;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hồng nghiêm

8

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Vũ Hồng Nghiêm

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HSST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 93/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 07/6/2024 Lê Minh S, Mẫu Bá T, Bạc Cầm T bị phát hiện bắt quả tang có hành vi cùng nhau cất giấu, tàng trữ trái phép 1,27 gam Methamphetamine. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger