Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/DS-ST

Ngày: 07 – 9 – 2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Văn Chiểu
  2. Bà Võ Tuyết Kha

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 202/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 336/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N. Địa chỉ: B - B C, phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Trần Ngô Phúc V, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Minh T, chức vụ: Quyền giám đốc Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh B. Địa chỉ: C T, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện theo ủy quyền lại:

Ông Trịnh Hữu H, chức vụ: Trưởng Bộ phận hỗ trợ kinh doanh. Địa chỉ: C T, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Ông Nguyễn Đắc T1, chức vụ: Nhân viên hỗ trợ kinh doanh. Địa chỉ: C T, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

1

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V1, sinh năm 1991; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Huỳnh Thị V2, sinh năm 1993; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

(Anh H, anh T1 có đơn xin vắng mặt; Ông V1, bà V2 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 20/09/2022, ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2 có ký Hợp đồng tín dụng số 0146/2022/616-TD-CV với Ngân hàng Thương mại cổ phần N, Chi nhánh B để vay số tiền 712.000.000 đồng với mục đích vay mua xe ô tô tiêu dùng phục vụ gia đình, lãi suất cho vay 11.99%/năm, được áp dụng cố định trong 06 tháng đầu, sau 06 tháng đầu lãi suất điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, theo công thức lãi suất điều chỉnh bằng lãi suất cơ chuẩn dài hạn (%/năm) cộng 4.8%/năm, (trong đó, lãi suất cơ chuẩn do Ngân hàng công bố hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh); Thời hạn vay 84 tháng (Từ ngày 20/9/2022 đến ngày 20/9/2029), phương thức trả nợ trả gốc lãi định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 20.

Để đảm bảo cho khoản vay, ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2 đã ký hợp đồng thế chấp tài sản (động sản) số 0115/2022/616-TD-BĐ ngày 20/9/2022 với Ngân hàng Thương mại cổ phần N, Chi nhánh B để thế chấp quyền sử dụng xe ô tô con ISUZU; màu sơn: Trắng; nước sản xuất THAILAND; khối lượng bản thân: 1935 (kg); khối lượng toàn bộ: 2700 (kg); số chỗ ngồi: 7 chỗ; số máy: RZ4EYA4542; số khung: MPAUCR87GNT000644; số loại: MU-X; dung tích: 1898 (cm3); biển số đăng ký: 94A-079.24; theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 94000097 do Công an huyện P cấp ngày 16/9/2022 cho ông Nguyễn Văn V1.

Theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2 có nghĩa vụ thanh toán nợ đúng hạn và đầy đủ cho Ngân hàng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông V1 và và bà V2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn từ ngày 31/7/2023.

Tính đến ngày 24/5/2024, ông V1 và bà V2 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi 191.545.654 đồng (trong đó gốc 103.212.000 đồng và lãi 88.333.654 đồng). Mặc dù, thời gian qua Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc tạo điều kiện để ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2 trả nợ, nhưng đến nay ông V1 và bà V2 vẫn không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2 phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 12/7/2024 là 693.973.106 đồng (trong đó tiền gốc là 608.788.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 75.813.939 đồng, tiền lãi quá hạn là 6.197.641 đồng, lãi chậm

2

trả lãi là 3.173.528 đồng). Đồng thời, sau ngày 12/7/2024 ông V1 và bà V2 phải chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2 không trả nợ hoặc trả không đầy đủ nghĩa vụ nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm sau đây để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N: Quyền sử dụng xe ô tô con ISUZU, màu sơn: Trắng, nước sản xuất: THAILAND, khối lượng bản thân 1935 (kg), khối lượng toàn bộ 2700 (kg), số chỗ ngồi 07 chỗ, số máy RZ4EYA4542, số khung MPAUCR87GNT000644, số loại MU-X, dung tích 1898 (cm³), biển số đăng ký 94A-079.24, theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 94000097 do Công an huyện P cấp ngày 16/9/2022 cho ông Nguyễn Văn V1. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán và xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho vay vốn với Ngân hàng. Trường hợp nếu số tiền thu được từ bán và xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả và dùng các tài sản hợp pháp khác của bên vay vốn để trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn V1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị V2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu chưa đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần N. Buộc ông V1 và bà V2 có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N số tiền tính đến ngày 12/7/2024 là 693.973.106 đồng (trong đó tiền gốc là 608.788.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 75.813.939 đồng, nợ lãi quá hạn là 6.197.641 đồng, lãi chậm trả lãi 3.173.528) và tiền lãi phát sinh.

Trường hợp ông V1 và bà V2 không trả nợ hoặc trả không đầy đủ nghĩa vụ nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm là xe ô tô con ISUZU, màu sơn: Trắng, số chỗ ngồi 07 chỗ, số máy RZ4EYA4542, số khung MPAUCR87GNT000644, số loại MU-X, dung tích 1898 (cm³), biển số đăng ký 94A-079.24, Giấy chứng chứng nhận đăng ký xe ô tô số 94000097 do Công an huyện P cấp ngày 16/9/2022 cho ông Nguyễn Văn V1.

Về án phí: Ông V1 và chị V2 phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

3

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Ngân hàng Thương mại cổ phần N khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2 trả số tiền vay còn nợ, đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, ông V1 và bà V2 đang cư trú trên địa bàn huyện P nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Ông V1 và bà V2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, anh H, anh T1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt anh H, anh T1, ông V1 và bà V2 là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung khởi kiện: Theo đề xuất cấp tín dụng ngày 13/9/2022, Ngân hàng Thương mại cổ phần N, Chi nhánh tỉnh B đã cho ông V1 và bà V2 vay số tiền 712.000.000đ với mục đích vay mua xe ô tô tiêu dùng phục vụ gia đình, lãi suất cho vay 11.99%/năm, thời hạn vay 84 tháng (Từ ngày 20/9/2022 đến ngày 20/9/2029), phương thức trả nợ trả gốc lãi định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 20. Để bảo đảm cho khoản vay, ông V1 và và bà V2 đã thế chấp xe ô tô con ISUZU; màu sơn: Trắng; nước sản xuất THAILAND; khối lượng bản thân: 1935 (kg); khối lượng toàn bộ: 2700 (kg); số chổ ngồi: 7 chỗ; số máy: RZ4EYA4542; số khung: MPAUCR87GNT000644; số loại: MU-X; dung tích: 1898 (cm3); biển số đăng ký: 94A-079.24; theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 94000097 do Công an huyện P cấp 16/9/2022 cho anh Nguyễn Văn V1. Ngân hàng Thương mại cổ phần N đã giải ngân cho ông V1 và bà V2 bằng hình thức nhận chuyển khoản. Quá trình thực hiện hợp đồng, do ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng Thương mại cổ phần N yêu cầu ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2 phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 12/7/2024 là 693.973.106 đồng (trong đó tiền gốc là 608.788.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 75.813.939 đồng, tiền lãi quá hạn là 6.197.641 đồng, lãi chậm trả lãi là 3.173.528 đồng). Đồng thời, sau ngày 12/7/2024, ông V1 và bà V2 phải chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng. Trường hợp ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2 không trả nợ hoặc trả không đầy đủ nghĩa vụ nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần N được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm phát mãi xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

[4] Căn cứ hợp đồng tín dụng, ông V1 và bà V2 có nghĩa vụ phải trả số tiền gốc và tiền lãi theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 20 kể từ ngày 20/9/2022 đến ngày 20/9/2029, nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông V và và bà V2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn từ ngày 31/7/2023. Quá trình tố tụng, tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng để thông báo cho ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2 biết về việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông, bà trả khoản tiền còn nợ. Tuy nhiên, ông V1, bà V2 không có ý kiến gì về việc Ngân hàng yêu cầu

4

trả nợ. Từ đó, cho thấy ông V1, bà V2 thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với Ngân hàng. Đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 BLTTDS. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông V1, bà V2 trả nợ là có căn cứ chấp nhận.

[5] Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ: Hợp đồng thế chấp tài sản (động sản) số: 0115/2022/616-TD-BĐ ngày 20/9/2022 thể hiện bên thế chấp là ông V1, bà V2 đồng ý thế chấp một xe ô tô con ISUZU, màu sơn: Trắng, số chỗ ngồi 07 chỗ, số máy RZ4EYA4542, số khung MPAUCR87GNT000644, số loại MU-X, dung tích 1898 (cm³), biển số đăng ký 94A-079.24, Giấy chứng chứng nhận đăng ký xe ô tô số 94000097 do Công an huyện P cấp ngày 16/9/2022 cho ông Nguyễn Văn V1, giá trị xe tại thời điểm thế chấp là 890.000.000 đồng. Khi ký kết hợp đồng các bên đều tự nguyện, không bị ép buộc hay lừa dối, tài sản thế chấp thuộc quyền sỡ hữu hợp pháp của ông V1, bà V2. Mặc khác, hợp đồng thế chấp được công chứng đúng theo quy định pháp luật. Hợp đồng thế chấp đã phát sinh hiệu lực tại thời điểm đã ký kết. Khi ký hợp đồng thế chấp Ngân hàng giao lại tài sản thế chấp cho ông V1, bà V2 giữ, Ngân hàng chỉ quản lý bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe. Do đó, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2 không trả nợ hoặc trả không đầy đủ nghĩa vụ nợ là đúng quy định pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

[6] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Ông V1 và bà V2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Ngân hàng Thương mại cổ phần N không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 217, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần N đối với ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2. Buộc ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2 cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N số tiền 693.973.106 đồng, trong đó tiền gốc là 608.788.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 75.813.939 đồng, tiền lãi quá hạn là 6.197.641 đồng, lãi chậm trả lãi 3.173.528 đồng.
  2. 5

  3. Ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh sau ngày 12/7/2024 cho đến khi ông V1 và bà V2 trả xong nợ theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký.
  4. Trường hợp ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2 không trả nợ hoặc trả không đầy đủ nghĩa vụ nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần N có quyền yêu cầu yêu cầu cơ quant hi hành án phát mãi tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng xe ô tô con ISUZU, màu sơn: Trắng, nước sản xuất: THAILAND, khối lượng bản thân 1935 (kg), khối lượng toàn bộ 2700 (kg), số chỗ ngồi 07 chỗ, số máy RZ4EYA4542, số khung MPAUCR87GNT000644, số loại MU-X, dung tích 1898 (cm³), biển số đăng ký 94A-079.24, theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 94000097 do Công an huyện P cấp ngày 16/9/2022 cho ông Nguyễn Văn V1. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán và xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho vay vốn với Ngân hàng. Trường hợp nếu số tiền thu được từ bán và xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả và dùng các tài sản hợp pháp khác của bên vay vốn để trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng.
  5. Về án phí: Ông Nguyễn Văn V1 và bà Huỳnh Thị V2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 31.759.000 đồng. Ngân hàng Thương mại cổ phần N không phải chịu án phí. Ngân hàng Thương mại cổ phần N đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 15.360.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006938 ngày 21/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được nhận lại.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Phước Long;
  • - Chi cục THADS huyện Phước Long;
  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Đẹp

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/DS-ST ngày 07/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 93/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger