|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 93/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20/8/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Song Bình.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Ba
2. Bà Nguyễn Thị Kiều Hương
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Minh Cường, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đoan T, kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 786/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ: Số A khu phố E, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A N, khu phố D, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn, bản khai ngày 28/12/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Kim T1 trình bày:
Chị và anh Nguyễn Thanh H đã xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2004, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/01/2005. Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn, thường xuyên cãi vã mất hạnh phúc; chị và anh H đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Thanh H có 02 con chung tên Nguyễn Hải Kim Q, sinh ngày 05/4/2005 (đã trưởng thành và lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết) và Nguyễn Gia B, sinh ngày 03/11/2015, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Gia B, chưa yêu cầu anh Nguyễn Thanh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là anh Nguyễn Thanh H trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Thị Kim T1 về quá trình kết hôn, sống chung, con chung, tuy nhiên vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, chủ yếu do kinh tế gia đình khó khăn. anh yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Anh còn thương vợ, thương con nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Hải Kim Q, sinh ngày 05/4/2005 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 03/11/2015. Anh mong được xem xét đoàn tụ để lo cho các con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định vụ án:
[1] Về tố tụng: đối với bị đơn Nguyễn Thanh H được Toà án triệu tập hợp lệ tham dự phiên toà đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh H
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp là “ly hôn”.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim T1 xét thấy:
Chị Nguyễn Thị Kim T1 và anh Nguyễn Thanh H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 25/01/2005 tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy chị T1 và anh H tiến đến hôn nhân vào năm 2005, quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải vã, bất hòa. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Xét thấy thời gian sống ly thân đã lâu nhưng chị T1 và anh H không hàn gắn được tình cảm, chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị T1 yêu cầu xin ly hôn với anh H là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T1
Về con chung: Chị T1 và anh H có 02 con chung tên Nguyễn Hải Kim Q, sinh ngày 05/4/2005 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 03/11/2015; cháu Q đã trưởng thành; chị T1 yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu B, tại phiên toà chị T1 trình bày hiện cháu B được chị T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt cho cháu B, nên chấp nhận yêu cầu của chị T1 giao cháu B cho chị T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị T1 chưa yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên chưa xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Chị T1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[5] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, thẩm phán, hội đồng xét xử và đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự .
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T1, cho chị T1 được ly hôn với anh H, giao con chung Nguyễn Gia B cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh H chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị T1 chưa yêu cầu.
Xét thấy ý kiến đề nghị nêu trên của kiểm sát viên phù hợp với pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng Điều 51, 56, 81. 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim T1.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim T1 được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H
- Về con chung: - Cháu Nguyễn Hải Kim Q, sinh ngày 05/4/2005 (đã trưởng thành và lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết).
- - Giao cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 03/11/2015 cho chị Nguyễn Thị Kim T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị T1 chưa yêu cầu anh Nguyễn Thanh H cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí:
- Chị Nguyễn Thị Kim T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Thanh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./
Anh Nguyễn Thanh H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung.
Chị Nguyễn Thị Kim T1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, chị T1 đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005553 ngày 28/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Tp Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, xem như chị T1 đã nộp xong án phí.
|
Nơi nhận:
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà Nguyễn Song Bình |
Bản án số 93/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 93/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa Nguyễn Thị Kim T1 và Nguyễn Thanh H
