|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 93/2024/HS-ST. Ngày: 22-5-2024. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Lê Thị Tố Như |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Lê Quang Vinh |
| Bà Nguyễn Thị Hương | |
| Thư ký phiên toà: | Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: | Ông Lê Đình Tiến - Kiểm sát viên. |
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, điểm cầu thành phần đặt tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2024/TLST-HS ngày 08/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/QĐXXST-HS ngày 08/5//2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Trọng C; Sinh năm 1986 tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: 28/24, Lê Thị H, phường L, thành phố T. Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông Trần Trọng T; sinh năm 1962 và bà Ngô Thị H1, sinh năm 1967; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ là: Trịnh Thị H2; sinh năm 1986; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012;
Nhân thân:
- - Ngày 06/12/2006 bị TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù giam về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
- - Ngày 20/08/2008 bị TAND huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã N) xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”;
- - Ngày 15/01/2009 bị TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 10 tháng tù giam về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
- - Ngày 06/03/2018, bị TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Đều đã được xóa án tích.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 01/02/2021, bị Công an T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính, số tiền 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn) về hành vi “Đánh nhau”. Hiện chưa chấp hành.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 08/8/2023, chuyển tạm giam ngày 14/8/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
2. Họ tên: Lê Quang H3; Sinh năm 1987 tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: 15, B, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Xuân T1, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1956; Gia đình có 03 anh em. Bị cáo là con thứ hai; Vợ là Nguyễn Thị T2, sinh năm 1988 (đã ly hôn). Bị cáo có 01 con, sinh năm 2008.
Tiền án: 02
- - Ngày 07/06/2016, bị TAND thành phố, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 21 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Chấp hành xong hình phạt ngày 15/6/2017, chưa được xóa án tích.
- - Ngày 08/9/2020, bị TAND thành phố, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 08/8/2023, chuyển tạm giam ngày 14/8/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trịnh Thị H2, sinh năm 1986; Địa chỉ: 2, L, phường L, thành phố T (có mặt).
* Người làm chứng:
- 1, Chị Nguyễn Thị Hương T3, sinh năm 1999; Địa chỉ: Phố T, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- 2, Chị Đoàn Thị Lan A, sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 5 giờ 30 phút ngày 7/8/2023, tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh T phối hợp với Công an phường Đ, TP . kiểm tra phòng 4 dãy nhà trọ tại A đường L, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa, phát hiện Lê Quang H3 và Đoàn Thị Lan A. Qua kiểm tra, phát hiện các dụng cụ liên quan đến việc sử dụng ma túy. Tại thời điểm kiểm tra Lê Quang H3 đã tự nguyện giao nộp 01 túi vải màu xám có chữ “NY” bên trong đựng 06 túi nilon màu trắng, bên trong mỗi túi đều chứa các viên nén hình trụ tròn, màu đỏ và màu xanh. H3 khai nhận là ma túy hồng phiến H3 mua của Trần Trọng C tại nhà nghỉ H7, đường V, phường B, TP., tỉnh Thanh Hóa, mục đích H3 cất giấu để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời.
Căn cứ lời khai của H3, ngày 7/8/2023, Cơ quan CSĐT (PC04), Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp đối với Trần Trọng C tại phòng 202 và 301 nhà nghỉ H7, đường V, phường B, TP., tỉnh Thanh Hóa phát hiện và thu giữ 0 1 (một) hộp nhựa màu vàng, bên trong đựng 04 (bốn) túi nilon màu xanh và 02 (hai) túi nilon màu hồng, bên trong mỗi túi đều chứa các viên nén hình trụ tròn màu đỏ và màu xanh; 01 (một) chai thủy tinh hình trụ tròn, bên trong đựng chất bột màu đỏ và màu xanh. C khai nhận là ma túy hồng phiến C cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời.
Đến ngày 9/8/2023, Cơ quan CSĐT (PC04), Công an tỉnh T nhận được tin báo của chị Phan Thị X (là chủ nhà nghỉ H7), đường V, phường B, TP., tỉnh Thanh Hóa. Quá trình dọn dẹp tất cả các phòng nghỉ và khuôn viên nhà nghỉ có phát hiện tại hộp chữa cháy (đặt tại chiếu nghỉ cầu thang từ tầng 1 và tầng 2) có 01 lọ thủy tinh, loại đựng thuốc nhân sâm màu đen, vỏ nhãn màu vàng bên chứa các viên nén hình trụ tròn màu đỏ (nghi là ma túy). Cơ quan điều tra đã tiến hành tiếp nhận, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.
* Việc thu giữ, tạm giữ, vật chứng, đồ vật, tài liệu và trưng cầu giám định:
+ Thu giữ của Lê Quang H3:
- - 01 (một) túi vải màu xám có chữ “NY” bên trong đựng 06 túi nilon màu trắng, bên trong mỗi túi đều chứa các viên nén hình trụ tròn, màu đỏ và màu xanh;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 1, màu trắng, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu vàng, dạng bàn phím, đã qua sử dụng;
- - 01 (một) chai nhựa có gắn ống hút bằng nhựa, thủy tinh; 01 (một) bật lửa và 01 mảnh giấy bạc;
- - 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA Future, màu xanh, BKS: 36B7-359.33.
+ Thu giữ của Trần Trọng C:
- - 01 (một) hộp nhựa màu vàng hình trụ tròn, có nắp màu đen, bên trong đựng 04 túi nilon màu xanh và 02 túi nilon màu hồng, bên trong đều chứa các viên nén hình trụ tròn màu đỏ và màu xanh;
- - 01 (một) chai thủy tinh, hình trụ tròn, màu nâu, có nắp màu vàng bên trong đựng chất bột màu đỏ và màu xanh.
- - 01 (một) điện thoại di động dạng cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh; 01 (một) điện thoại di động dạng cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 8, màu trắng; 01 (một) điện thoại di động dạng bàn phím, nhãn hiệu Nokia 105, màu đen và 01 (một) điện thoại di động dạng bàn phím, nhãn hiệu Nokia 1202, màu đen;
- - Số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) tiền VNĐ;
- - 01 (một) cân tiểu ly điện tử, màu đen.
+ Vật chứng tiếp nhận của chị Phan Thị X, chủ nhà nghỉ H7 gồm:
- - 01 (một) hộp nhựa màu vàng, có nắp màu đen, bên trong đựng 04 (bốn) túi nilon màu xanh và 02 (hai) túi nilon màu hồng, bên trong mỗi túi đều chứa các viên nén hình trụ tròn màu đỏ và màu xanh;
- - 01 (một) đầu thu camera, màu đen, nhãn hiệu AJHUA.
Kết luận giám định số 2921/KL-KTHS ngày 11/08/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: các viên nén hình trụ tròn, màu đỏ và màu xanh bên trong túi vải màu xám có chữ “NY”: có tổng khối lượng 27,285 gam là ma túy loại Methamphetamine (thu giữ của Lê Quang H3).
Kết luận giám định số 2922/KL-KTHS ngày 11/08/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:
- - Các viên nén hình trụ tròn màu đỏ và màu xanh trong hộp nhựa màu vàng: có tổng khối lượng 63,451 gam là ma túy loại Methamphetamine;
- - Chất bột màu đỏ và màu xanh trong chai thủy tinh màu nâu, có nắp màu vàng: có tổng khối lượng 8,255 gam là ma túy loại Methamphetamine (thu giữ của Trần Trọng C).
Kết luận giám định số 2943/KL-KTHS ngày 15/08/2023 của Phòng KTHS, Công an tỉnh T, kết luận: các viên nén hình trụ tròn màu đỏ và màu xanh bên trong hộp nhựa màu vàng, có nắp màu đen: có tổng khối lượng 112,836 gam là ma túy loại Methamphetamine (chị Phan Thị X chủ nhà nghỉ H7 giao nộp).
Quá trình điều tra xác định: Sáng ngày 05/8/2023, C gọi điện cho người đàn ông tên H5, ở TP. (không rõ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể) để đặt mua 15.000.000đ (mười lăm triệu) ma túy hồng phiến, H5 đồng ý bán và hẹn gặp nhau ở khu vực gần cổng trường Đại học C1 để giao dịch mua bán ma túy. Sau đó, C đi xe khách ra TP ., đến trưa ngày 5/8/2023, khi C đến điểm hẹn liên lạc với H5 thì khoảng 15 phút sau H5 đi xe máy đến. C đưa cho H5 15.000.000đ, H5 nhận tiền rồi bán cho C 01 (một) túi nilon màu đen bên trong đựng ma túy hồng phiến. Sau khi mua được ma túy, C bắt xe khách đi về Thanh Hóa.
Chiều ngày 5/8/2023, C về đến TP. và thuê phòng 202 và 301 nhà nghỉ H7, đường V, phường B, TP. để ngủ. Tại đây, C lấy một ít ma túy hồng phiến để sử dụng và cất giấu vào lọ nhựa màu vàng trên cửa sổ phòng 301 để đợi khách bán kiếm lời.
Về hành vi mua bán ma túy giữa Lê Quang H3 và Trần Trọng C: Quá trình điều tra C quanh co, chỉ khai nhận bán cho H3 10 viên ma túy hồng phiến vào ngày 05/8/2023 với giá 1.000.000đ (một triệu đồng) không khai nhận việc bán cho H3 300 (ba trăm) viên hồng phiến vào sáng ngày 06/8/2023 nhưng căn cứ vào lời khai của H3, dữ liệu thông tin trong điện thoại, sao kê ngân hàng và trích xuất camera tại nhà nghỉ H7 vào ngày 06/8/2023, có đủ căn cứ xác định: khoảng 20h ngày 05/8/2023, H3 sử dụng số điện thoại 0776.623.xxx gọi vào số 0355315756 của C để hỏi mua 300 (ba trăm) viên hồng phiến với giá 15.000.000₫ nhưng do H3 chưa đủ tiền nên H3 sẽ chuyển khoản cho C trước 8.000.000đ (tám triệu đồng) và nợ lại 7.000.000đ (bảy triệu đồng), C đồng ý. Sau đó, H3 sử dụng số tài khoản 00001263919 thuộc ngân hàng T5, mang tên “Lê Quang H3" chuyển tiền nhiều lần (tổng 8.000.000đ) vào số tài khoản số 0781000501486 thuộc ngân hàng V mang tên “Trần Trọng C” mục đích để mua ma túy của C.
Đến khoảng 03 giờ ngày 06/8/2023, H3 gọi điện lại cho C hỏi “có ma túy chưa để H3 xuống lấy”, C bảo “có rồi, em xuống đi”. H3 sử dụng xe máy nhãn hiệu HONDA Future, màu xanh, BKS: 36B7-359.33 đi từ TP. xuống TP .. Khi đến nơi, H3 gặp C tại quán ăn đêm nên đã đợi C ăn xong rồi cùng đi về nhà nghỉ H7. Tại phòng 202, C lấy 02 túi nilon đựng khoảng 300 viên ma túy hồng phiến đưa cho H3, rồi sang phòng khác ngủ với bạn gái là Nguyễn Thị Hương T3.
Mua được ma túy, Lê Quang H3 đi xe máy mang ma túy về TP., rồi sử dụng hết khoảng 20 viên hồng phiến. Số ma túy còn lại, H3 chia nhỏ cất giấu trong túi vải mang theo trên người để bán kiếm lời. Sáng ngày 7/8/2023, H3 đến Phòng 4 dãy nhà trọ tại A đường L, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa (do Đoàn Thị Lan A thuê) thì bị cơ quan công an kiểm tra và thu giữ toàn bộ số ma túy mà H3 đã cất giữ.
Vật chứng vụ án gồm: Các chất ma tuý cùng các túi, bao bì còn lại sau khi giám định; 01 túi vải màu xám có chữ “NY”; 03 điện thoại di động Iphone; 03 điện thoại di động N; 01 chai nhựa có gắn ống hút bằng nhựa, thủy tinh; 01 bật lửa; 01 mảnh giấy bạc; 01 xe máy nhãn hiệu HONDA Future, màu xanh, BKS: 36B7-359.33; 01 hộp nhựa màu vàng hình trụ tròn, 01 chai thủy tinh; số tiền 2.000.000đ; 01 cân tiểu ly điện tử màu đen đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa để bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng số: 23/CT-VKSTH-P1 ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Trần Trọng C về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Truy tố Lê Quang H3 về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Hình phạt chính:
- + Áp dụng điểm b khoản 3, 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 BLHS, xử phạt Trần Trọng C từ 18 năm tù đến19 năm tù.
- + Áp dụng các điểm i, q khoản 2, 5 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 BLHS, xử phạt Lê Quang H3 từ 09 năm tù đến 10 năm tù.
Hình phạt bổ sung:
Đề nghị phạt tiền các bị cáo Trần Trọng C và Lê Quang H3 mỗi bị cáo từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng.
c) Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Áp dụng a khoản 1 Điều 46 BLHS và Điều 106 BLTTHS:
- + Tịch thu tiêu hủy:
- - Đối với các chất ma túy và các bao bì thu giữ còn lại sau giám định, 01 túi vải màu xám có chữ “NY”.
- - 01 chai nhựa có gắn ống hút bằng nhựa, thủy tinh; 01 bật lửa; 01 mảnh giấy bạc; 01 hộp nhựa màu vàng hình trụ tròn, 01 chai thủy tinh; 01 cân tiểu ly điện tử màu đen
- + Tịch thu sung công quỹ:
- - 02 chiếc điện thoại các bị cáo dùng để giao dịch mua bán ma túy.
- + Truy thu của C số tiền 8.000.000₫ H3 chuyển khoản mua bán ma túy với C ngày 06/8/2023.
- + Trả lại 04 điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.
- + Trả lại nhưng quy trữ để đảm bảo thi hành án:
- - số tiền 2.000.000₫ thu của bị cáo C.
+ Trả lại: 01 xe máy nhãn hiệu HONDA Future, màu xanh, BKS: 36B7-359.33 cho chị Trần Thị H6 (là vợ của bị cáo C).
Lời nói sau cùng, các bị cáo nhận tội, không tranh luận, xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên. VKSND tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 5 giờ 30 phút ngày 7/8/2023, tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh T phối hợp với Công an phường Đ, TP . kiểm tra phòng 4 dãy nhà trọ tại A đường L, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa, Lê Quang H3 đã đầu thú, tự nguyện giao nộp 27,285 gam ma túy loại Methamphetamine và khai nhận mua của Trần Trọng C tại nhà nghỉ H7, đường V, phường B, TP., tỉnh Thanh Hóa, mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời.
Căn cứ lời khai của H3, ngày 7/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp đối với Trần Trọng C tại phòng 202 và 301 nhà nghỉ H7, đường V, phường B, TP., tỉnh Thanh Hóa phát hiện C có hành vi tàng trữ tổng khối lượng 71,706 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời.
Quá trình điều tra C không khai nhận việc bán cho H3 300 (ba trăm) viên hồng phiến vào sáng ngày 06/8/2023 nhưng căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định C đã thực hiện hành vi bán 300 viên ma túy hồng phiến cho H3. Do đó, C phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số ma túy thu giữ của H3 mà C đã bán cho H3 và số ma túy thu giữ khi khám xét khẩn cấp đối với C. Tổng là 98,991 gam ma túy loại Methamphetamine.
Đối với bị can Lê Quang H3 ngoài hành vi mua bán 27,285 gam ma túy loại Methamphetamine, quá trình điều tra, xác định H3 có 02 tiền án, hiện tại chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, H3 phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm i, q, khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Trần Trọng C là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của Lê Quang H3 là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm vào chế độ quản lý chất ma túy của nhà nước cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Như vậy HĐXX nhận thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Trần Trọng C đã cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Lê Quang Huy Đ đã cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại các điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số: 23/CT-VKSTH-P1 ngày 05/4/2024 của VKSND tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất vụ án: Các bị cáo đều nhận thức rõ tác hại của ma túy và hình phạt đối với các hành vi phạm tội ma túy rất nghiêm khắc, vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây tác hại nhiều mặt của đời sống xã hội. Các bị cáo nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nên phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, cần phải xét xử nghiêm khắc mới có tác dụng trừng trị, răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là đối với các loại tội phạm về ma túy đang gây bức xúc trong giai đoạn hiện nay.
[4]. Về động cơ, mục đích, nguyên nhân và điều kiện phạm tội của các bị cáo: Bản thân các bị cáo mua ma túy mục đích để sử dụng và bán kiểm lời.
[5]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lê Quang H3 có 02 tiền án: Ngày 07/06/2016, bị TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 21 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 15/6/2017 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích đến ngày 23/01/2019 bị cáo tiếp tục phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 06/10/2021 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này của H3 thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lê Quang H3 và Trần Trọng C đầu thú. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và đồng phạm nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS,
Bị cáo H3 có bố đẻ là ông Lê Xuân T1 là cán bộ hưu trí trong lực lượng CAND, được Nhà nước tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen. Do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 BLHS.
Khi quyết định hình phạt, HĐXX căn cứ vào nhân thân bị cáo, mức độ nguy hiểm cho xã hội do từng bị cáo gây ra để xem xét vai trò của từng bị cáo khác nhau nên hình phạt cũng khác nhau. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có sự bàn bạc phân công vai trò cụ thể nên chỉ là đồng phạm giản đơn.
Bị cáo Trần Trọng C có hành vi tàng trữ 71,706g ma túy loại Methamphetamine và thực hiện hành vi bán 300 viên ma túy hồng phiến cho bị cáo Lê Quang H3. Do đó, Trần Trọng C phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ số ma túy thu giữ trong vụ án này là 98,991 (chín tám phẩy chín chín một gam) loại Methamphetamine nên giữ vai trò đứng đầu.
Bị cáo Lê Quang H3 thực hiện hành vi mua 27,285 gam ma túy loại Methamphetamine của Trần Trọng C mục đích để sử dụng và bán kiếm lời nên giữ vai trò sau cùng trong vụ án.
[6]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Xét thấy, mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lợi bất chính nên cần phạt bổ sung một khoản tiền nhất định sung vào ngân sách Nhà nước. Đề nghị của Viện kiểm sát áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS nên được HĐXX chấp nhận.
Truy thu của Trần Trọng C số tiền 8.000.000 đồng là tiền thu lời bất chính do bán ma túy ngày 7/8/2023 mà có theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
[8]. Liên quan đến vụ án: Người đàn ông tên là H5 nhà ở Hà Nội bán ma túy cho bị cáo C vào ngày 05/8/2023 tại khu vực gần cổng trường Đại học C1, bị cáo C không biết rõ họ tên, nơi cư trú ở đâu, việc mua bán ma túy chỉ có bị cáo C biết. Đồng thời rút list và kiểm tra thông tin số thuê bao đứng tên Công ty cổ phần C2, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xác minh làm rõ và xử lý trách nhiệm hình sự đối với người đàn ông tên H5 nêu trên nên sẽ tách tài liệu liên quan để xử lý trong một vụ án khác khi có đủ căn cứ.
- Đối với 01 (một) đầu thu camera, màu đen, nhãn hiệu AJHUA là vật chứng tiếp nhận của chị Phan Thị X, chủ nhà nghỉ H7 giao nộp và 112,836 gam là ma túy loại Methamphetamine phát hiện và thu giữ tại hộp chữa cháy (đặt tại chiếu nghỉ cầu thang từ tầng 1 và tầng 2) nhà nghỉ H7, do chị Phan Thị X trình báo vào ngày 9/8/2023. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra, các biện pháp nghiệp nhưng đến thời điểm hiện tại chưa chứng minh được người đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy và tách vụ án hình sự, tách số ma túy còn lại sau giám định để tiếp tục điều tra trong một vụ án khác.
- Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA Future, màu xanh, BKS: 36B7-359.33. Lê Quang H3 khai nhận mượn của Trần Thị H6 (là vợ của bị cáo C). Chị H6 khai báo đã mua lại của một cửa hàng mua bán xe máy cũ ở thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, cách đây khoảng 02 năm với giá 15.000.000đ (mười lăm triệu) nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ và quá trình sử dụng chị H6 đã làm mất đăng ký xe máy. Ngày 5/8/2023, H3 đến nhà chị H6 chơi và mượn xe máy để đi công việc. Sau đó, H3 đi đâu và làm gì thì chị H6 không biết.
Kết quả tra cứu thông tin chủ xe là Lê Gia T4, trú tại 50 đường T, phường N, TP .. Làm việc với anh T4 khai nhận: chiếc xe có biển số như trên được anh T4 mua mới vào tháng 10/2019, đăng ký mang tên Lê Gia T4. Đến khoảng đầu năm 2020, anh T4 bán xe máy trên cho một người đàn ông tên P nhưng không nhớ họ tên, địa chỉ cụ thể và anh P cũng không làm thủ tục sang tên đổi chủ. Tra cứu xe máy vật chứng: Xe không thuộc hệ thống xe vật chứng.
Đối với Đoàn Thị Lan A (là bạn của bị cáo H3), việc H3 cất giấu ma túy tại phòng 4 dãy nhà trọ tại A đường L, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa nhưng Lan A không biết việc H3 mua bán ma túy và không tham gia mua bán ma túy nên không đủ căn cứ xử lý Đoàn Thị Lan A trong vụ án này.
Đối với Nguyễn Thị Hương T3 (là bạn bị cáo C). Khi cơ quan điều tra khám xét phòng 202 và 301 nhà nghỉ H7, T3 có mặt tại đây nhưng không biết việc C cất giấu, mua bán ma túy và không tham gia mua bán ma túy với C nên không đủ căn cứ xử lý Nguyễn Thị Hương T3 trong vụ án này.
[9]. Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và các bao bì thu giữ còn lại sau giám định, 01 túi vải màu xám có chữ “NY”; 01 chai nhựa có gắn ống hút bằng nhựa, thủy tinh; 01 bật lửa; 01 mảnh giấy bạc; 01 hộp nhựa màu vàng hình trụ tròn, 01 chai thủy tinh; 01 cân tiểu ly điện tử màu đen là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu trắng gắn sim số 0776623087 của Lê Quang H3 và 01 điện thoại di động Iphone 12Pro màu xanh gắn sim số 03355315756 của Trần Trọng C, các bị cáo dùng vào việc bán ma túy là công cụ phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- + Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu vàng của Lê Quang H3; 01 điện thoại di động Iphone 8 màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1202 màu đen của Trần Trọng C không phải là công cụ phạm tội nên cần trả lại cho chủ sở hữu.
- + Tiếp tục quy trữ số tiền 2.000.000₫ thu giữ của Trần Trọng C ngày 07/8/2023 để đảm bảo thi hành án.
- + Đối với 01 xe máy nhãn hiệu HONDA Future, màu xanh, BKS: 36B7-359.33 do chị Trần Thị H6 (là vợ của bị cáo Trần Trọng C) là chủ sở hữu hợp pháp, khi giao xe cho H3 sử dụng chị H6 không biết H3 sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy với C nên cần trả lại cho chủ sở hữu.
Toàn bộ số vật chứng hiện được thu giữ và quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số: 124/2024/TV-CTHADS ngày 10 tháng 4 năm 2024 và giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 09/4/2024 hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
[10]. Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11]. Các bị cáo, người liên quan được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Trần Trọng C); Các điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự (đối với Lê Quang H3); Khoản 5 Điều 251 ; Điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Các Điều 331; 333; 336; 337 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Trọng C và Lê Quang H3 phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Về hình phạt:
Về hình phạt chính:
- - Xử phạt bị cáo Trần Trọng C 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 08/8/2023.
- - Xử phạt bị cáo Lê Quang H3 09(chín) năm tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 08/8/2023.
Về hình phạt bổ sung :
- - Phạt bị cáo Trần Trọng C 10.000.000đ (mười triệu đồng).
- - Phạt bị cáo Lê Quang H3 bị cáo 5.000.000đ (năm triệu đồng).
- - Truy thu của Trần Trọng C số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng) là tiền thu lời bất chính do bán ma túy ngày 06/8/2023 mà có.
Về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và các bao bì thu giữ còn lại sau giám định, 01 túi vải màu xám có chữ “NY”; 01 chai nhựa có gắn ống hút bằng nhựa, thủy tinh; 01 bật lửa; 01 mảnh giấy bạc; 01 hộp nhựa màu vàng hình trụ tròn, 01 chai thủy tinh; 01 cân tiểu ly điện tử màu đen.
- - Tịch thu sung công quỹ: 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu trắng gắn sim số 0776623087 của Lê Quang H3; 01 điện thoại di động Iphone 12Pro màu xanh gắn sim số 03355315756 của Trần Trọng C.
- - Truy thu của Trần Trọng C số tiền 8.000.000₫ Lê Quang H3 chuyển khoản mua bán ma túy với C ngày 06/8/2023.
- - Tiếp tục quy trữ số tiền 2.000.000₫ thu giữ của Trần Trọng C ngày 07/8/2023 để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại 01 xe máy nhãn hiệu HONDA Future, màu xanh, BKS: 36B7-359.33 cho chị Trần Thị H6 là chủ sở hữu hợp pháp,
- - Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu vàng cho Lê Quang H3; Trả lại 01 điện thoại di động Iphone 8 màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1202 màu đen cho Trần Trọng Chiến.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số: 124/2024/TV-CTHADS ngày 10 tháng 4 năm 2024 và giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 09/4/2024 hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa).
Về án phí sơ thẩm: Buộc các bị cáo Trần Trọng K, Lê Quang H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo, gười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Tố Như |
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
