Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/DSST

Ngày: 26/4/2024

V/v “Tranh chấp

hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Mai

- Các Hội thẩm nhân dân.

1. Ông Võ Hoàng Vũ

2. Bà Hồ Thị Kim Luyến

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Tú – Thư ký Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 716/2023/TLST-DS ngày 27/11/2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạm Văn P, sinh năm 1960

Địa chỉ: 1 L, KV Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ

Bị đơn: Bà Lê Ngọc Ả, sinh năm 1974

Địa chỉ: A T, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/10/2023 và bản tự khai nguyên đơn ông Phạm Văn P trình bày:

Vào ngày 05/09/2017, bà Lê Ngọc Ả có mượn của ông số tiền là 300.000.000 đồng để mua bán trứng gà, hẹn trả nợ sau 04 ngày (từ 05/9/2017 đến 08/9/2017). Tuy nhiên bà không trả tiền cho ông như đã hứa mà chỉ trả được 80.000.000 đồng, còn nợ lại 220.000.000 đồng. Ông P đã nhiều lần đến nhà yêu cầu bà trả lại tiền cho ông nhưng bà chỉ hứa hẹn mà không thực hiện và kéo dài đến nay. Do đó, ông P khởi kiện yêu cầu bà Lê Ngọc Ả phải trả lại cho ông số tiền nợ gốc là 220.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 20%/năm, gồm 02 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Kể từ ngày 05/9/2017 đến tháng 12/2017 với số tiền còn nợ 300.000.000đồng.

Giai đoạn 2: Kể từ tháng 01/2018 đến khi xét xử, với số tiền còn nợ 220.000.000 đồng.

Lê Ngọc Ả đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để giải quyết vụ kiện nhưng đều vắng mặt và cũng không có văn bản gửi Tòa án thể hiện ý kiến của bà đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn P. Do đó vụ kiện thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Để bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự, vụ kiện được đưa ra xét xử.

Tại phiên tòa:

Ông P xác định chỉ yêu cầu bà trả cho ông số nợ gốc là 220.000.000đồng, ông không yêu cầu tính lãi.

vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ông Phạm Văn P khởi kiện bà Lê Ngọc Ả yêu cầu trả số tiền mà ông đã cho bà vay và tiền lãi nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Lê Ngọc Ả đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà .

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Nguyên đơn khởi kiện và cung cấp chứng cứ là “Biên nhận” đề ngày 05/9/2017 có chữ kí và chữ viết mang tên Phạm Văn P phía dưới “Người giao” và chữ ký chữ viết mang tên Lê Ngọc Ả phía dưới “Người nhận” với nội dung:

“...Tôi tên Lê Ngọc Ả, sinh năm 1974

Tôi có nhận số tiền Ba trăm triệu đồng (300.000.000đồng)

Của ông/bà Phạm Văn P, sinh năm 1960

Lý do: Mua bán trứng gà

Thời gian trả nợ 4 ngày từ (5/9 – 8/9/17)...”

Ngoải ra, phía dưới mục “người nhận” có chữ ký và chữ viết mang tên Lê Ngọc Ả có ghi “đã nhận đủ 300 triệu đồng” và “hẹn thứ 5 là ngày 08/9/17 giải ngân của ngân hàng S1 trả đủ chú S”.

Tài liệu, chứng cứ này phù hợp với phần trình bày của nguyên đơn, đủ cơ sở xác định ông Phạm Văn P cho bà Lê Ngọc Ả vay số tiền 300.000.000đồng, thời hạn trả nợ là ngày 08/9/2017. Tuy nhiên, hết thời hạn này bà không trả tiền cho ông P, theo ông P trình bày thì cho đến cuối tháng 12/2017 bà mới trả cho ông được tổng cộng 80.000.000đồng, trả làm nhiều lần, khi trả không có biên bản giao nhận và còn nợ lại số tiền 220.000.000đồng. Do bà vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông P khởi kiện yêu cầu bà Ảnh trả tiền gốc lãi là phù hợp.

Bà Ảnh được Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ án, nhiều lần triệu tập để tham gia giải quyết vụ kiện, được thông báo thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng (trong đó ghi cụ thể yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và đề nghị bà có ý kiến). Tuy nhiên, bà không đến Tòa án, không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ đó cho thấy bà mặc nhiên thừa nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông P xác định chỉ yêu cầu bà trả lại số tiền nợ gốc còn lại là 220.000.000đồng, ông không yêu cầu tính lãi. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn và có lợi cho bị đơn nên yêu cầu của nguyên đơn có cơ sở chấp nhận.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định. Ông Phạm Văn P thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn P.

    Buộc bà Lê Ngọc Ả trả cho ông Phạm Văn P số tiền 220.000.000đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Ngọc Ả phải chịu 11.000.000đồng (Mười một triệu đồng).
  3. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q.Ninh Kiều;
  • - CCTHADS Q.Ninh Kiều;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/DSST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 93/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông P khởi kiện yêu cầu bà Ả trả nợ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger