|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 93/2023/DS-ST Ngày: 20/12/2023 “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy quyết định cá biệt” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Minh Á;
Ông Trịnh Ngọc Bằng.
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam: bà Trần Thị Thanh Bắc - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2019/TLST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2019 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy quyết định cá biệt”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 14/2022/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Ngô Thị Thu B, sinh năm 1964;
Địa chỉ: Số B Quốc lộ A, Tổ E, Khu phố C, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Lê Văn N, sinh năm 1961; địa chỉ: MPN B Khu phố C, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản uỷ quyền ngày 18/8/2022).
- Ông Vũ Tiến T, sinh năm 1959; địa chỉ: 5 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản uỷ quyền ngày 20/9/2022).
- Bị đơn:
- Ông Huỳnh M (đã chết năm 2021);
- Bà Lê Thị Thu H (đã chết năm 2020).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Huỳnh M và bà Lê Thị Thu H gồm:
- Ông Huỳnh Thanh S, sinh năm 1970;
- Bà Huỳnh Thu T1, sinh năm 1969;
- Ông Huỳnh Thanh D, sinh năm 1974;
- Ông Huỳnh Thanh B1, sinh năm 1976.
Cùng địa chỉ: khối phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
- Ông Huỳnh Thanh H1, sinh năm 1972; địa chỉ: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của các ông, bà: S, T1, D, B1 và H1: ông Bùi Anh N1, sinh năm 1976; địa chỉ: khu phố M, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam (các văn bản uỷ quyền lập ngày 18/8/2022, 22/8/2022, 26/8/2022).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Huỳnh Thu T1, sinh năm 1969;
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1961.
Cùng địa chỉ: Tổ B, khối phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T1, ông T2: ông Bùi Anh N1, sinh năm 1976; địa chỉ: khu phố M, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
- Bà Ngô Thị C, sinh năm 1959;
- Ông Phạm Phi H2, sinh năm 1968;
Cùng địa chỉ: Số B Quốc lộ A, Tổ E, Khu phố C, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Lê Thị Thu D1, sinh năm 1963; địa chỉ: khối phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
- Bà Lê Thị Bích L, sinh năm 1957; địa chỉ: Tổ A, khối phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Trụ sở tại: Số H, đường H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Do ông Võ Vi N2 chuyên viên Phòng Tài nguyên và môi trường huyện T đại diện theo Giấy uỷ quyền số 15/GUQ-UBND ngày 10/10/2023.
- Người làm chứng:
- + Ông Đặng Ngọc H3, sinh năm 1960;
- + Ông Đỗ Phú K, sinh năm 1961;
- + Bà Huỳnh Thị Cẩm L1, sinh năm 1971;
- + Ông Phạm T3, sinh năm 1953;
- + Ông Võ Bình N3, sinh năm 1959;
Cùng trú tại: Tổ B, khối phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
- + Bà Đoàn Thị Tuyết T4, sinh năm 1956; địa chỉ: A Bầu C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- + Ông Triệu D2, sinh năm 1950; địa chỉ: Số I đường T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Ngô Thị Thu B và các đại diện theo uỷ quyền thống nhất trình bày:
Cha bà Ngô Thị Thu B là ông Ngô Minh V (chết năm 1964 không khai tử) và mẹ là bà Phạm Thị Xuân T5 (chết năm 1992). Cha mẹ bà có 03 người con gồm: bà Ngô Thị C, bà Ngô Thị Thu B và ông Phạm Phi H2. Sau ngày giải
phóng, gia đình bà cư trú trên khu vườn có diện tích đất từ ngã ba P T6 đến Hồ Ô với diện tích khoảng 02 mẫu tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Đến năm 1976, Nhà nước có chủ trương cải tạo nên trưng thu đất của mẹ bà để làm Cửa hàng thực phẩm (cũ) nay là Chi cục T11- Công ty cấp 3 huyện T và một phần đất mở đường Nguyễn Đình T7. Do đó, Nhà nước di dời gia đình bà về làng quy hoạch (làng quy hoạch 76 nay là đường 10 tháng 3 khối phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Nam). Theo hồ sơ 299/TTg, làng quy hoạch gồm có 05 hộ với tổng diện tích 4.676m² gồm: ông Huỳnh Phước T8, bà Nguyễn Thị B2, ông Đoàn V1, bà Phạm Thị Xuân T5 và ông Phạm Dinh . Trong đó, hộ mẹ bà là bà T5 được cấp khoảng 1.400m², theo sơ đồ là thửa số 17 (ngang 20m x dài 70m) có vị trí: Đông giáp đường sân bay dã chiến trước năm 1975 (nay là đường A), Tây giáp bờ sông T, Nam giáp lô đất ông Phạm D3, Bắc giáp lô đất ông Đoàn Viết .1
Sau khi nhận đất tái định cư, mẹ bà đã xây một căn nhà gạch để gia đình ở lâu dài trên thửa đất số 17, có diện tích 24m² (6m x 4m), có vị trí: Đông giáp đường sân bay dã chiến, Tây, Nam, Bắc giáp phần đất trống của thửa 17. Đến ngày 30/01/1984, bà T5 có chuyển nhượng lại một phần đất cho ông Đặng Ngọc H3 diện tích đất 280m² (7m x 40m) có phía Đông giáp sân bay dã chiến, Tây giáp đất trống Nam giáp đất ông Phạm D3, Bắc giáp nhà bà Phạm Thị Xuân T5, có giấy tờ chuyển nhượng kèm theo. Vào năm 1989, chị bà là bà Ngô Thị C có bán cho bà Lê Thị Thu D1 diện tích 24m² (6m x 4m) có ngôi nhà gạch đã xây trước đây trên đất, có phía Đông giáp đường A, Tây giáp đất trống, Nam giáp đất ông Đặng Ngọc H3, Bắc giáp đất trống của bà T5. Sau khi chuyển nhượng một phần cho ông H3 280m², chuyển nhượng diện tích 24m² đất có nhà thì diện tích đất còn lại của cha mẹ bà là 1.096m². Từ đó đến nay chị em bà giao cho ông H2 quản lý, không chuyển nhượng cho bất kỳ ai.
Lợi dụng việc ông H2 đi làm ăn xa vắng mặt tại địa phương nên ông Huỳnh M và bà Lê Thị Thu H đã chiếm đoạt 143,5m², kê khai nguồn gốc đất gian dối (đất hoang vỡ hóa đồn Mỹ năm 78) và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00444 ngày 31/12/2004 tại thửa số 77, tờ bản đồ số 17, diện tích 143,5m². Năm 2006, ông H2 gửi đơn khiếu nại về việc cấp đất sai cho hộ ông M, bà H nhưng không được giải quyết. Vì vậy, ông M, bà H tiếp tục chiếm đoạt thêm 241,2m² để cho con gái là cô Huỳnh Thu T1 đứng tên và đến năm 2015 thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số LH00029 cấp ngày 14/02/2015 có diện tích 241,2m², thửa đất số 81, tờ bản đồ số 17.
Vì vậy, bà Ngô Thị Thu B khởi kiện yêu cầu Tòa án:
- Buộc hộ ông Huỳnh M và bà Lê Thị Thu H tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trả lại diện tích đất chiếm đoạt 143,5m² cho mẹ bà là bà Phạm Thị Xuân T5 (nay chị em bà là bà Ngô Thị C, Ngô Thị Thu B và ông Phạm Phi H2 là người thừa kế của bà T5).
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00444 mà UBND huyện T cấp cho hộ ông Huỳnh M và bà Lê Thị Thu H vào ngày 31/12/2004 đối với diện tích đất 143,5m², thửa đất số 77, tờ bản đồ số 17.
- Buộc hộ bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2 tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trả lại diện tích đất chiếm đoạt của bà T5 là 241,2m² cho những người thừa kế của bà T5 là bà Ngô Thị C, Ngô Thị Thu B và ông Phạm Phi H2.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số LH00029 mà UBND huyện T cấp cho bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2 vào ngày 14/02/2015 đối với diện tích đất 241,2m², thửa đất số 81, tờ bản đồ số 17.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Vào năm 1982, gia đình ông Huỳnh M, bà Lê Thị Thu H về sống chung với gia đình cậu là ông P và bà Lê Thị Bích L tại thị trấn T, huyện T. Nhà ông P, bà L đang ở gồm nhà trên và nhà dưới. Sau khi con bà L chết, vợ chồng ông P, bà L chuyển nhượng ngôi nhà trên cho bà Nguyễn Thị H4. Phần nhà bên hông 3m x 46m, diện tích 138m² để lại cho vợ chồng ông M, bà H sử dụng.
Năm 1989, bà Lê Thị Thu D1 (là em ruột bà Lê Thị Thu H) nhận chuyển nhượng ngôi nhà trên diện tích đất 391m² (8,5m x 46m) của bà Phạm Thị Xuân T5 do con của bà T5 là bà Ngô Thị Thu C1 và ông Phạm Phi H2 chuyển nhượng (có Giấy uỷ quyền của bà T5 và Giấy bán nhà kèm theo); bà C1, ông H2 đã được bà T5 lập giấy ủy quyền sử dụng chuyển nhượng đất. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà D1 đã chuyển nhượng ngôi nhà trên đất có kích thước 6m x 25m, diện tích 150m² cho ông Huỳnh Phước H5. Hiện nay, ngôi nhà và đất con trai và con gái của ông H5 là bà Huỳnh Thị Cẩm L1, ông Nguyễn Hồng S1 đang sử dụng. Phần đất còn lại của bà D1 là 24m² chuyển sang cho ông M, bà H. Ông M, bà H nhập phần đất nói trên vào phần đất của ông P, bà L để lại và sử dụng cho đến nay. Năm 1989, ông M và bà H được UBND thị trấn T cấp Giấy phép xây dựng nhà ở và ông sử dụng phần đất nói trên từ năm 1989 đến nay không có tranh chấp. Ngày 31/12/2004, hộ ông Huỳnh M, bà Lê Thị Thu H được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nhà đang sử dụng là 143,5m² tại thửa 77, tờ bản đồ số 17, giấy chứng nhận số AB213109. Riêng phần đất phía sau có diện tích 241,2m² ông M, bà H cho vợ chồng con gái là Huỳnh Thu T1 và Nguyễn Văn T2 sử dụng. Đến ngày 12/02/2015 được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX391058 cho hộ bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2 thửa đất số 81, tờ bản đồ số 17, diện tích 241,2m².
Đối với ông H5, bà C1, sau khi chuyển nhượng nhà đất cho bà D1, bà C1 vào Thành phố Hồ Chí Minh để sinh sống. Ông H5 không còn nhà ở, nên làm căn nhà tranh tre trên phần đất phía sau đã chuyển nhượng cho bà D1 để ở tạm, sau đó ông H5 bỏ đi và bán ngôi nhà tranh tre cho bà Lưu Thị Bích T9 tháo dỡ về làm nhà dưới.
Như vậy, toàn bộ diện tích đất đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng ông M, bà H và vợ chồng bà T1, ông T2 đã được gia đình ông M, bà H sử dụng từ năm 1989 đến nay không tranh chấp. Gia đình ông M có kê khai, nộp thuế cho nhà nước và đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp theo quy định của pháp luật.
Đến nay bà Ngô Thị Thu B khởi kiện nhưng không cung cấp được giấy tờ chứng minh hộ gia đình bà T5 được nhà nước cấp diện tích đất là bao nhiêu. Từ năm 1989 đến nay gia đình bà T5 không sử dụng thửa đất nói trên, không kê khai
đăng ký, không nộp thuế cho nhà nước, nên ông Huỳnh M, bà Lê Thị Thu H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với lời khai các nhân chứng được bà Ngô Thị Thu B cung cấp trong hồ sơ vụ án là không khách quan. Đề nghị Tòa án triệu tập tất cả các nhân chứng có lời khai do bà B cung cấp trong hồ sơ để làm rõ.
Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện T trình bày: UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Minh d trên cơ sở ông M sử dụng ổn định từ năm 1989 đến nay, được UBND thị trấn T xác nhận và ông M kê khai đăng ký theo hồ sơ 60/CP. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận, không có ai tranh chấp về việc sử dụng đất của ông Huỳnh M. Ông M nộp thuế đất nông nghiệp và thuế nhà đất đúng quy định. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận không có giấy chuyển nhượng đất hay tài sản trên đất. Do đó UBND huyện T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Bà Huỳnh Thu T1, ông Nguyễn Văn T2, bà Lê Thị Thu D1, bà Lê Thị Bích L thống nhất ý kiến của phía bị đơn.
- Bà Ngô Thị C1, ông Phạm Phi H2 thống nhất ý kiến của phía nguyên đơn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu ý kiến: Về việc chấp hành pháp luật, từ khi thụ lý vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Ngừng phiên tòa để thu thập, bổ sung chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Ngô Thị Thu B khởi kiện yêu cầu Tòa án: Buộc hộ ông Huỳnh M tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trả lại thửa đất số 77, diện tích 143,5m², buộc hộ bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2 tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trả lại thửa đất số 81, diện tích 241,2m² đất cho những người thừa kế của bà Phạm Thị Xuân T5. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp cho hộ ông Huỳnh M và bà Lê Thị Thu H vào ngày 31/12/2004 đối với thửa đất số 77, diện tích 143,5m² và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp cho bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2 vào ngày 14/02/2015 đối với diện tích đất 241,2m², thửa đất số 81, tờ bản đồ số 17, nên quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy quyết định cá biệt” theo quy định tại khoản 5 Điều 26 và Điều
34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[1.2] Về việc xét xử vắng mặt: Tại phiên tòa sơ thẩm lần hai vắng mặt một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên những người này có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, những người còn lại đã được triệu tập lần 2, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng với quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về diện tích đất tranh chấp:
Theo 02 Sơ đồ thửa đất tranh chấp (kèm theo Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 22/9/2020) do Chi nhánh Văn phòng Đ vẽ ngày 19/9/2022 (BL 335 và 336), Công văn số 1291/UBND-TH ngày 15/7/2020 của UBND huyện T (BL 222) và tại phiên toà sơ thẩm các đương sự có mặt đều thừa nhận: Diện tích đất tranh chấp là: thửa đất số 77, diện tích 143,5m² trên đất có nhà của ông Huỳnh M và bà Lê Thị Thu H, đã được UBND huyện T cấp Giấy CNQSD đất cho hộ ông Huỳnh M và bà Lê Thị Thu H vào ngày 31/12/2004 và thửa đất số 81, diện tích 241,2m² trên đất có nhà của bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2, đã được UBND huyện T cấp Giấy CNQSD đất cho bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2 vào ngày 14/02/2015.
Tại phiên toà sơ thẩm, tất cả các đương sự có mặt đều thống nhất với Biên bản xem xét, thẩm định, Biên bản định giá ngày 22/9/2020 và 02 Sơ đồ thửa đất tranh chấp (kèm theo Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 22/9/2020) do Chi nhánh Văn phòng Đ vẽ ngày 19/9/2022 và không có ai yêu cầu định giá và đo vẽ lại.
[2.2] Về nguồn gốc 02 thửa đất tranh chấp:
Hồ sơ thể hiện vào năm 1982, gia đình ông Huỳnh M, bà Lê Thị Thu H về sống chung với gia đình cậu là ông P và bà Lê Thị Bích L tại thị trấn T, huyện T. Nhà ông P, bà L đang ở gồm nhà trên và nhà dưới. Sau khi con bà L chết, vợ chồng ông P, bà L chuyển nhượng ngôi nhà trên cho bà Nguyễn Thị H4. Phần nhà bên hông có chiều ngang 3m x 46m, diện tích 138m² để lại cho vợ chồng ông M, bà H được tiếp tục sử dụng.
Năm 1989, bà Lê Thị Thu D1 (là em ruột bà Lê Thị Thu H) nhận chuyển nhượng ngôi nhà trên diện tích đất 391m² (8,5m x 46m) của bà Phạm Thị Xuân T5 do con của bà T5 là bà Ngô Thị Thu C1 và ông Phạm Phi H2 chuyển nhượng (có Giấy uỷ quyền của bà T5 và Giấy bán nhà kèm theo); bà C1, ông H2 đã được bà T5 lập giấy ủy quyền sử dụng chuyển nhượng đất. Việc chuyển nhượng được lập thành văn bản có Giấy bán nhà được ban cán sự thôn T xác nhận ngày 04/7/1989 và được UBND thị trấn T xác nhận và đóng dấu ngày 05/7/1989. Tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn bà Ngô Thị Thu B và những người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn không có ai yêu cầu giám định Giấy bán nhà do bị đơn xuất trình.
Sau khi nhận chuyển nhượng, bà D1 đã chuyển nhượng ngôi nhà trên đất có kích thước 6m x 25m, diện tích 150m² cho ông Huỳnh Phước H5. Hiện nay ngôi nhà và đất này con trai và con gái của ông H5 là bà Huỳnh Thị Cẩm L1 và
ông Nguyễn Hồng S1 đang sử dụng. Phần đất còn lại của bà D1 là 241m² chuyển sang cho ông M, bà H. Ông M, bà H nhập phần đất nói trên vào phần đất của ông P, bà L để lại và sử dụng cho đến nay. Năm 1989, ông M và bà H được UBND thị trấn T cấp Giấy phép xây dựng nhà ở và ông sử dụng phần đất nói trên từ năm 1989 đến nay không có tranh chấp. Ngày 31/12/2004, hộ ông Huỳnh M, bà Lê Thị Thu H được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nhà đang sử dụng là 143,5m² tại thửa 77, tờ bản đồ số 17 tại khối phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Riêng phần đất phía sau có diện tích 241,2m² ông M, bà H cho vợ chồng con gái là Huỳnh Thu T1 và Nguyễn Văn T2 sử dụng. Đến ngày 12/02/2015 được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX391058 cho hộ bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2 thửa đất số 81, tờ bản đồ số 17, diện tích 241,2m², vợ chồng bà Huỳnh Thu T1 đã xây dựng nhà ở từ năm 1993 cho đến nay.
[2.3] Nguyên đơn bà Ngô Thị Thu B khởi kiện yêu cầu Tòa án: Buộc hộ ông Huỳnh M tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trả lại thửa đất số 77, diện tích 143,5m² và buộc bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2 tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trả lại thửa đất số 81, diện tích 241,2m² đất cho những người thừa kế của bà Phạm Thị Xuân T5, Hội đồng xét xử xét:
Diện tích đất tranh chấp là: thửa đất số 77, diện tích 143,5m² trên đất có nhà của ông Huỳnh M và bà Lê Thị Thu H, đã được UBND huyện T cấp Giấy CNQSD đất cho hộ ông Huỳnh M và bà Lê Thị Thu H vào ngày 31/12/2004 và thửa đất số 81, diện tích 241,2m² trên đất có nhà của bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2, đã được UBND huyện T cấp Giấy CNQSD đất cho bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2 vào ngày 14/02/2015.
Tại phiên toà sơ thẩm bà Ngô Thị Thu B và những người đại diện theo uỷ quyền của bà B đều thừa nhận: Vào năm 1989, chị bà B là bà Ngô Thị C1 và em bà B là ông Phạm Phi H2 có bán nhà cho bà Lê Thị Thu D1 diện tích 24m² (6m x 4m) có ngôi nhà gạch đã xây trước đây trên đất, có phía Đông giáp đường A, Tây giáp đất trống, Nam giáp đất ông Đặng Ngọc H3, Bắc giáp đất trống của bà T5. Sau khi chuyển nhượng một phần cho ông H3 280m². Từ năm 1989, sau khi bán nhà cho bà Lê Thị Thu D1 gia đình bà T5 không quản lý sử dụng đất.
Luật Đất đai năm 1987 không cho phép công dân, chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà chỉ được chuyển nhượng tài sản trên đất. Tại Điều 10 Nghị định số 30/HĐBT ngày 23/3/1989 của Hội đồng bộ trưởng quy định: Khi người sử dụng đất chuyển nhượng, bán nhà ở, vật kiến trúc, cây lâu năm theo quy định tại khoản 2 Điều 49 của Luật Đất đai năm 1987 thì UBND huyện thành phố thuộc tỉnh xét để quyết định việc giao đất cho người được nhận nhà ở, nếu việc sử dụng đất đó thực tế là hợp pháp và hợp lý.
Như vậy, phần diện tích đất tranh chấp, từ năm 1989 đến nay gia đình bà Ngô Thị T10 Ba không quản lý sử dụng, không có kê khai đăng ký và cũng không được cấp Giấy CNQSD đất đối với diện tích đất tranh chấp. Trên phần diện tích đất tranh chấp gia đình bà Ngô Thị T10 Ba không có tài sản, vật kiến trúc và cây cối gì.
Trong khi đó phần diện tích đất tranh chấp, từ năm 1989 đến nay gia đình ông Huỳnh M quản lý sử dụng, kê khai đăng ký theo Nghị định 60/CP làm nghĩa vụ với nhà nước và được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nhà đang sử dụng là 143,5m² tại thửa 77, tờ bản đồ số 17 tại khối phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Riêng phần đất phía sau có diện tích 241,2m² ông M, bà H cho vợ chồng con gái là Huỳnh Thu T1 và Nguyễn Văn T2 sử dụng. Đến ngày 12/02/2015 được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX391058 cho hộ bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2. Nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Ngô Thị Thu B về việc: Buộc hộ ông Huỳnh M tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trả lại thửa đất số 77, diện tích 143,5m² và không chấp nhận yêu cầu buộc bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2 tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trả lại thửa đất số 81, diện tích 241,2m² đất cho những người thừa kế của bà Phạm Thị Xuân T5.
[2.4] Đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp cho hộ ông Huỳnh M và bà Lê Thị Thu H ngày 31/12/2004 đối với thửa đất số 77, diện tích 143,5m² và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp cho bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2 ngày 14/02/2015 đối với diện tích đất 241,2m², thửa đất số 81, tờ bản đồ số 17, Hội đồng xét xử xét: Như đã phân tích ở trên, phần diện tích đất tranh chấp là: thửa đất số 77, diện tích 143,5m² đã được UBND huyện T cấp Giấy CNQSD đất cho hộ ông Huỳnh M và bà Lê Thị Thu H vào ngày 31/12/2004 và thửa đất số 81, diện tích 241,2m² đã được UBND huyện T cấp Giấy CNQSD đất cho bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2 vào ngày 14/02/2015. Tại Công văn số 1291/UBND-TH ngày 15/7/2020 (BL 222) UBND huyện T đã khẳng định: UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Minh d trên cơ sở ông M sử dụng ổn định từ năm 1989 đến nay, được UBND thị trấn T xác nhận và ông M kê khai đăng ký theo hồ sơ 60/CP. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận, không có ai tranh chấp về việc sử dụng đất của ông Huỳnh M. Ông M nộp thuế đất nông nghiệp và thuế nhà đất đúng quy định. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận không có giấy chuyển nhượng đất hay tài sản trên đất. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh M và bà Huỳnh Thu T1, ông Nguyễn Văn T2 là đúng trình tự thủ tục quy định. Nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp cho hộ ông Huỳnh M và bà Lê Thị Thu H ngày 31/12/2004 đối với thửa đất số 77, diện tích 143,5m² và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp cho bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2 ngày 14/02/2015.
Trên phần diện tích đất tranh chấp, tại phiên toà sơ thẩm các đương sự có mặt đều thừa nhận: Gia đình bà Ngô Thị T10 Ba không có tài sản, vật kiến trúc và cây cối gì, nên không giải quyết.
[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, nên bà Ngô Thị T10 Ba phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
[4] Chi phí xem xét, thẩm định, đo vẽ và định giá tài sản 10.000.000 đồng: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên căn cứ Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự bà Ngô Thị T10 Ba phải chịu, số tiền này bà Ngô Thị Thu B đã nộp đủ.
[5] Đối với Quyết định áp dụng khẩn cấp tạm thời: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, nên Hội đồng xét xử huỷ Quyết định áp dụng khẩn cấp tạm thời số 04/2019/QĐ-KCTT ngày 30/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam. Bà Ngô Thị Thu B được nhận lại số tiền đã nộp khi yêu cầu áp dụng khẩn cấp tạm thời.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 26, 34, 35, 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điều 166, khoản 1 Điều 167, Điều 203 của Luật Đất đai; điều 11, Điều 164 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Ngô Thị Thu B về việc: Buộc hộ ông Huỳnh M, bà Lê Thị Thu H tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trả lại thửa đất số 77, diện tích 143,5m² và bà Huỳnh Thu T1, ông Nguyễn Văn T2 tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trả lại thửa đất số 81, diện tích 241,2m² đất cho những người thừa kế của bà Phạm Thị Xuân T5.
Không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp cho hộ ông Huỳnh M và bà Lê Thị Thu H ngày 31/12/2004 đối với thửa đất số 77, diện tích 143,5m² và không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp cho bà Huỳnh Thu T1 và ông Nguyễn Văn T2 ngày 14/02/2015 (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Huỷ Quyết định áp dụng khẩn cấp tạm thời số 04/2019/QĐ-KCTT ngày 30/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam. Bà Ngô Thị Thu B được nhận lại số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) đã nộp khi yêu cầu áp dụng khẩn cấp tạm thời.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Ngô Thị T10 Ba phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) bà B đã nộp theo phiếu thu số 0000266 ngày 21/02/2019 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Quảng Nam.
Bà Ngô Thị T10 Ba phải chịu chi phí xem xét, thẩm định, đo vẽ và định giá tài sản là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA "Đã ký" Nguyễn Hữu Thịnh |
Bản án số 93/2023/DS-ST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy quyết định cá biệt
- Số bản án: 93/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy quyết định cá biệt
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, huỷ quyết định cá biệt giữa nguyên đơn Ngô Thị Thu B với bị đơn Huỳnh M, Lê Thị Thu H
