TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 93/2024/HNGĐ-ST Ngày 19-07-2024 “V/v Tranh chấp ly hôn, con chung" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Công Định
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt, ông Nguyễn Tất Bẩy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà:
Ông Hoàng Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 242/2024/TLST-HNGD ngày 03 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/ QĐXX -HNGD ngày 24 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 43/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/07/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đào Thị L, sinh năm 2001 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 20/5/2024, những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Đào Thị L trình bày:
Chị và anh Hoàng Văn Đ kết hôn với nhau ngày 13/9/2022 đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn anh chị đã được tự nguyện tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau kết hôn chị về nhà anh Đ làm dâu ngay.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm dẫn đến hay cãi nhau, anh Đ xúc phạm và có hành vi bạo lực đối với chị. Hiện chị đã bỏ về bố mẹ đẻ ở thôn M, xã G, huyện L ở và vợ chồng đã ly thân. Nay chị xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn Đ.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Thị Khánh H, sinh ngày 26/12/2022. Sau khi ly hôn chị L có nguyện vọng được nuôi con chung, yêu cầu anh Đ cấp dưỡng 2.000.000 đồng/1 tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị và anh Đ không có tài sản chung, không liên quan đến vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 06/6/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Hoàng Văn Đ trình bày:
Anh xác định thời điểm kết hôn và mâu thuẫn như chị L trình bày là đúng. Trong lúc cãi nhau nóng giận anh có ghì cổ chị L xuống nhưng không đánh chị L. Chị L đã tự ý bỏ về nhà mẹ đẻ và đi làm công ty, vợ chồng đã ly thân và ít quan tâm đến nhau hơn. Tuy nhiên anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái nên chị L xin ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn với chị L.
Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 01 con chung như chị L trình bày là đúng. Nếu phải ly hôn anh có nguyện vọng nuôi con chung là Hoàng Thị Khánh H1 nhưng nếu chị L nhất quyết muốn nuôi thì anh nhất trí để chị L nuôi cháu H1. Trường hợp Tòa án giao con chung cho anh nuôi thì anh không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con, còn trường hợp Tòa án giao con chung cho chị L nuôi thì anh nhất trí cấp dưỡng 2.000.000 đồng/01 tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh và chị L không có tài sản chung, không liên quan đến vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Đào Thị L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn là anh Hoàng Văn Đ vắng mặt không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử công bố lời khai của chị Đào Thị L và anh Hoàng Văn Đ trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và ý kiến về thủ tục tố tụng của Toà án trong quá trình thụ lý cũng như giải quyết vụ án và sự chấp hành pháp luật của các đương sự theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đào Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn Đ.
- - Về quan hệ con chung: Giao cho chị Đào Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Hoàng Thị Khánh H, sinh ngày 26/12/2022. Anh Hoàng Văn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng 2.000.000 đồng/ 1 tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, thời điểm cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Sau khi ly hôn, anh Hoàng Văn Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- - Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Chị Đào Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Đào Thị L khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn và con chung với anh Hoàng Văn Đ có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Đào Thị L và anh Hoàng Văn Đ kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị xã T ngày 13/9/2022, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Đào Thị L và anh Hoàng Văn Đ là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng chị L, anh Đ đều xác định vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau, hiện vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. HĐXX thấy: Thực tế chị L và anh Đ không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau, không sống chung cùng nhau là không đảm bảo theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, có căn cứ xác định hôn nhân giữa chị L và anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị L, xử cho chị Đào Thị L được ly hôn anh Hoàng Văn Đ.
[4]. Về con chung: Chị Đào Thị L và anh Hoàng Văn Đ đều xác định vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Thị Khánh H, sinh ngày 26/12/2022. Phía chị L có nguyện vọng là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Phía anh Đ cũng có nguyện vọng nuôi con chung, tuy nhiên, chị L nhất quyết muốn nuôi con chung anh Đ cũng đồng ý và anh Đ sẽ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị L là 2.000.000 đồng/tháng. HĐXX thấy: Nguyện vọng nuôi con chung của chị L, anh Đ là chính đáng. Tuy nhiên, hiện cháu H chưa đủ 36 tháng tuổi và hiện cháu H đang ở với chị L, để đảm bảo cho việc phát triển bình thường của con chung, căn cứ Điều 81 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình HĐXX thấy cần giao chị Đào Thị L trực tiếp nuôi dưỡng Hoàng Thị Khánh H, sinh ngày 26/12/2022.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L yêu cầu anh Đ cấp dưỡng 2.000.000 đồng/1 tháng, anh Đ đồng ý mức chị L yêu cầu, HĐXX thấy việc anh Đ đồng ý mức cấp dưỡng chị L đưa ra là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc nên căn cứ Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình cần buộc anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Hoàng Thị K Huyền mức 2.000.000 đồng/1 tháng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn anh Hoàng Văn Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung, công nợ chung: Đào Thị L và anh Hoàng Văn Đ cùng xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Đào Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và anh phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị L.
- Quan hệ hôn nhân: Cho chị Đào Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn Đ.
- Về quan hệ con chung: Giao cho chị Đào Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Hoàng Thị Khánh H, sinh ngày 26/12/2022. Anh Hoàng Văn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng 2.000.000 đồng/ 1 tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, thời điểm cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Đào Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị L đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006207 ngày 03/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản được niêm yết công khai./.
Sau khi ly hôn, anh Hoàng Văn Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Anh Hoàng Văn Đ phải 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Công Định |
Bản án số 93/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 93/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Thị L - Hoàng Văn Đ
