Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2023/DS-ST

Ngày: 18/8/2023

“V/v: Tranh chấp hợp đồng

đặt cọc”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh.

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Hằng;

Bà Lài Thị Thu Hà.

Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Thu Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 02 năm 2023 về: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2023/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Đức L, sinh năm 1995. Địa chỉ: T2, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
  2. Người đại diện ủy quyền: Anh Lê Hữu N, sinh năm: 1991. Địa chỉ: 2 N, L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh theo giấy ủy quyền ngày 05/4/2023 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị T, TDP Đ, thị trấn N, huyện L.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Tài L1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
  4. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1 Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1978.
    • 3.2 Anh Nguyễn Thái V, sinh năm 1995.
    • 3.3 Anh Nguyễn Công M, sinh năm 1993
    • 3.4 Chị Nguyễn Thái B, sinh năm 2008 Người đại diện hợp pháp cho chị Nguyễn Thái B là ông Nguyễn Tài L1, bà Hoàng Thị H.

    Cùng địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

    (Anh N, ông L1, bà H, anh V và anh M đều có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Lê Hữu N trình bày: Xuất phát từ việc ông Nguyễn Tài L1 muốn chuyển nhượng đất nên tháng 6 năm 2022, sau khi tìm hiểu anh Lê Đức L đã đồng ý nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Tài L1 diện tích 1000m² thuộc một phần thửa đất số 08, tờ bản đồ số 26 (hai bên thỏa thuận phải đảm bảo ít nhất là 13m mặt đường bê tông) đất tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng với giá là 1.200.000.000đ.

Ngày 07/6/2022, anh Lê Đức L cùng ông Nguyễn Tài L1 đã lập hợp đồng đặt cọc viết tay với nhau có chữ ký của hai bên và người làm chứng là bà Hoàng Thị H. Vào ngày lập hợp đồng đặt cọc anh L đã đặt cọc cho ông L1 số tiền là 150.000.000đ. Số tiền đặt cọc này anh L chuyển khoản vào số tài khoản của con trai ông Nguyễn Tài L1 là anh Nguyễn Thái V, do ông L1 yêu cầu. Hai bên hẹn đến khi nào ông L1 cung cấp trích lục đo đạc thì anh L sẽ đặt cọc thêm 150.000.000đ nhưng do từ ngày đó cho tới nay ông L1 không liên lạc cũng không cung cấp họa đồ đo đạc cho anh L nên anh L chưa đặt cọc thêm vì vậy số tiền còn lại là 1.050.000.000đ. Ông Nguyễn Tài L1 cam kết sẽ thực hiện thủ tục tách thửa đủ diện tích anh L nhận chuyển nhượng ra một cuốn sổ riêng để hai bên ra Văn phòng công chứng lập hợp đồng chuyển nhượng và thực hiện các thủ tục sang tên, sau đó anh L sẽ thanh toán số tiền còn lại trong vòng 07 tháng tính từ ngày 07/6/2022 tức là đến ngày 07/01/2023.

Tuy nhiên khi đến hẹn hai bên ra Văn phòng công chứng lập hợp đồng chuyển nhượng và thực hiện các thủ tục sang tên nhưng ông L1 chưa thực hiện xong thủ tục tách thửa mặc dù đã rất nhiều lần anh L gọi điện thoại thúc giục nhưng ông L1 không nghe điện thoại của anh L. Anh L chủ động đến nhà ông L1 rất nhiều lần để thương lượng và anh L cũng nói với ông L1 nếu không thực hiện được thủ tục tách thửa thì trả lại tiền cọc cho anh L nhưng ông Nguyễn Tài L1 cũng không đồng ý.

Đến nay các bên không thỏa thuận được với nhau về nội dung tranh chấp, vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình anh Lê Đức L có yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giải quyết: Tuyên hủy hợp đồng đặt cọc giữa anh L và ông Nguyễn Tài L1 theo giấy ghi là “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” lập ngày 07/6/2022 đối với diện tích đất 1000m² thuộc một phần thửa đất số 08, tờ bản đồ số 26 đất tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; yêu cầu ông L1 trả lại cho anh Lê Đức L số tiền anh L đã đặt cọc là 150.000.000đ. Ngoài ra anh L không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Nguyễn Tài L1 trình bày: Vào ngày 07/6/2022, ông và anh L có thỏa thuận đặt cọc để chuyển nhượng cho anh Lê Đức L diện tích đất thuộc một phần thửa đất số 08, tờ bản đồ số 26 xã N, hai bên thỏa thuận phải đảm bảo ít nhất là 13m mặt đường bê tông, lô đất không tóp hậu; đất tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng với giá là 1.200.000.000đ. Trong đó, đặt cọc lần 1 số tiền 150.000.000đ vào ngày 07/6/2022; lần hai khi có họa đồ tách thửa thanh toán số tiền là 150.000.000đ và thanh toán lần 3 trong vòng 210 ngày kể từ ngày 07/6/2022 đến ngày 07/01/2023 hai bên ra Văn phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng thì anh L thanh toán số tiền còn lại là 900.000.000đ. Ông L1 nhận trách nhiệm thực hiện các thủ tục tách thửa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh L theo thỏa thuận.

Ngày 07/6/2022, sau khi hai bên ký kết hợp đồng đặt cọc thì anh L đã đặt cọc cho ông số tiền 150.000.000đ, số tiền này anh L đã chuyển vào tài khoản của anh Nguyễn Thái V con của ông và ông L1 đã nhận đủ; anh V cho nhờ số tài khoản để anh L chuyển tiền, còn tiền anh V nhận được đã giao lại cho ông L1. Thời điểm hai bên ký kết hợp đồng đặt cọc thì đất đứng tên hộ gia đình ông L1, việc ông L1 đại diện giao kết hợp đồng đặt cọc và thỏa thuận chuyển nhượng đất cho anh L được tất cả các thành viên hộ gia đình đồng ý và sau đó gia đình ông L1 đã thống nhất chuyển quyền sử dụng đất đứng tên ông L1 vào tháng 7/2022 để ông L1 thực hiện các thủ tục tách thửa chuyển nhượng đất theo thỏa thuận với anh L. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông L1 đề nghị cơ quan chuyên môn đo đạc để thực hiện thủ tục tách thửa đất và sau khi có họa đồ đo đạc thửa đất tách thửa ngày 23/12/2022, ông L1 có báo với anh L và yêu cầu thanh toán thêm số tiền 150.000.000₫ nhưng anh L không thực hiện là vi phạm thỏa thuận. Hơn nữa, quá trình thực hiện thủ tục tách thửa đất thì do chính sách chung của Nhà nước, thời hạn thực hiện tách thửa có bị chậm trễ vì lý do khách quan. Nay, anh L khởi kiện thì ông L1 xác định, do anh L vi phạm nghĩa vụ đặt cọc lần hai cho ông L1 nên anh L phải bị mất tiền đặt cọc theo quy định của pháp luật. Ông L1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh L như trên.

Thực tế trước đây ông vẫn thống nhất tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh L nhưng do anh L không thiện chí nên đến nay ông L1 không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng với anh L nữa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thái V trình bày: Anh V xác định, diện tích đất thửa 08, tờ bản đồ số 26 xã N, huyện L là của bố anh V là ông Nguyễn Tài L1. Việc ông L1 và anh L thỏa thuận đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc một phần thửa 08 tờ bản đồ 26 xã N, huyện L thì có anh V chứng kiến. Số tiền anh Lê Đức L đặt cọc 150.000.000đ cho bố anh V là ông L1 thì anh L đã chuyển vào tài khoản của anh V ngày 07/6/2022, anh V nhận tiền và đã giao lại đủ cho ông L1, các bên không tranh chấp và thắc mắc gì về khoản tiền đặt cọc này. Nay, các bên tranh chấp liên quan đến hợp đồng đặt cọc thì anh V thống nhất theo ý kiến và trình bày của ông L1. Anh V đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Công M và người đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thái B là ông L1, bà H cùng thống nhất trình bày: Anh M và chị B cùng xác định, diện tích đất thửa 08, tờ bản đồ số 26 xã N là của bố anh, chị là ông Nguyễn Tài L1, không liên quan đến anh, chị. Việc ông L1 và anh L thỏa thuận đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc một phần thửa 08 tờ bản đồ 26 xã N vào ngày 07/6/2022 thì có anh M và chị B chứng kiến nhưng anh, chị không liên quan nên không ký vào các giấy tờ thỏa thuận giữa hai bên. Số tiền anh L đặt cọc 150.000.000đ cho ông L1 thì anh V đã nhận đủ số tiền này. Nay các bên tranh chấp liên quan đến hợp đồng đặt cọc ngày 07/6/2022 thì anh M, chị B thống nhất theo ý kiến và trình bày của ông L1; đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Anh M và chị B không có yêu cầu gì trong vụ án này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị H trình bày: Bà H và ông L1 trước đây là vợ chồng và đã ly hôn vào năm 2017. Khi ly hôn, bà H và ông L1 đã thỏa thuận với nhau về tài sản. Bà H xác định, diện tích đất thửa 08, tờ bản đồ số 26 xã N là của ông Nguyễn Tài L1, không liên quan đến bà H. Việc ông L1 và anh L thỏa thuận đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc một phần thửa 08 tờ bản đồ 26 xã N, huyện L vào ngày 07/6/2022 thì có bà H chứng kiến và bà H cũng là người giới thiệu cho giao dịch này. Số tiền anh L đặt cọc 150.000.000đ cho ông L1 thì anh L đã chuyển vào tài khoản của anh V, tuy nhiên theo thỏa thuận thì việc thanh toán lần thứ hai anh L không thực hiện theo đúng thỏa thuận. Nay, các bên tranh chấp liên quan đến hợp đồng đặt cọc ngày 07/6/2022 thì bà H mong muốn các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng và hoàn tất thủ tục chuyển nhượng với nhau, bà H không có yêu cầu gì trong vụ án này.

Tại phiên tòa.

Các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án, của Hội đồng xét xử và của những người tham gia tố tụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 117, 122, 123 và Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Đức L về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” với ông Nguyễn Tài L1; hủy thỏa thuận đặt cọc giữa anh Lê Đức L và ông Nguyễn Tài L1 theo “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” lập ngày 07/6/2022 đối với diện tích đất 1000m² thuộc một phần thửa đất số 08, tờ bản đồ số 26 đất tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; đồng thời, buộc ông Nguyễn Tài L1 trả lại cho anh Lê Đức L số tiền đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã nhận là 150.000.000đ.

Về án phí: Buộc ông Nguyễn Tài L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc hủy hợp đồng đặt cọc và án phí sơ thẩm tương ứng số tiền phải trả cho anh Lê Đức L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm tra tại phiên tòa cũng như ý kiến tranh luận của đương sự, ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Xuất phát từ việc giữa ông Nguyễn Tài L1 với anh Lê Đức L có xác lập hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất 1000m², đất thuộc một phần thửa đất số 08, tờ bản đồ số 26 đất tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng theo giấy ghi là “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” xác lập ngày 07/6/2022. Quá trình thực hiện các bên không thống nhất được với nhau về việc chuyển nhượng; từ khi thỏa thuận đến nay thì diện tích đất ông Nguyễn Tài L1 vẫn canh tác, sử dụng. Anh Lê Đức L khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc giữa anh Lê Đức L và ông Nguyễn Tài L1 theo giấy ghi là “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” lập ngày 07/6/2022; đồng thời, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Tài L1 phải trả lại khoản tiền đã nhận cọc của anh L là 150.000.000đ, ngoài ra anh L không yêu cầu gì thêm. Bị đơn ông Nguyễn Tài L1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Đức L nên phát sinh tranh chấp. Do vậy, căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Xét về đối tượng và nội dung hợp đồng các bên giao kết thì nhận thấy: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa các bên đương sự đều thừa nhận: Ngày 07/6/2022, anh L cùng ông Nguyễn Tài L1 đã xác lập hợp đồng đặt cọc với nhau theo giấy ghi “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”. Theo đó các bên thỏa thuận ông L1 chuyển nhượng cho anh L diện tích 1000m², đất thuộc một phần thửa đất số 08, tờ bản đồ số 26 (diện tích đất phải đảm bảo ít nhất là 13m mặt đường bê tông) thuộc thửa đất số 08, diện tích 6039m², tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng với giá là 1.200.000.000đ. Vào ngày ký hợp đồng đặt cọc anh L đã đặt cọc cho ông Nguyễn T1 Lý số tiền là 150.000.000đ. Số tiền đặt cọc này anh L chuyển khoản vào số tài khoản của con trai ông L1 là anh Nguyễn Thái V và ông Nguyễn Tài L1 đã nhận đủ. Hai bên thỏa thuận đến khi nào ông Nguyễn Tài L1 cung cấp trích lục đo đạc thì anh L sẽ đặt cọc thêm 150.000.000đ. Số tiền còn lại sẽ thanh toán khi hoàn tất thủ tục tách thửa được cấp quyền sử dụng đất riêng đối với diện tích đất thỏa thuận chuyển nhượng, ông L1 ký hợp đồng chuyển nhượng cho anh Lê Đức L được công chứng thì anh L thanh toán hết số tiền còn lại. Thời hạn hoàn tất tách thửa sang tên quyền sử dụng đất cho anh L là trong vòng 07 tháng tính từ ngày 07/6/2022. Nội dung xác nhận của các bên đương sự phù hợp với chứng cứ là giấy ghi “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” lập ngày 07/6/2022 giữa ông Nguyễn Tài L1 và anh Lê Đức L có sự chứng kiến của anh V, bà H và đều được anh V, bà H xác định đúng theo nội dung anh Lê Đức L và ông Nguyễn Tài L1 trình bày. Như vậy, các đương sự đều thống nhất về đối tượng tranh chấp, nội dung thực hiện hợp đồng, phương thức thanh toán và số tiền đã đặt cọc. Đây là những tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2, Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.2] Tuy nhiên, việc các bên lập hợp đồng đặt cọc là để đảm bảo cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, xét về quyền sử dụng đất tại thời điểm thỏa thuận và giao kết hợp đồng giữa các bên vào ngày 07/6/2022 thì quyền sử dụng đất này là của hộ ông Nguyễn Tài L1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 471976 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 20/12/2004. Thời điểm cấp quyền sử dụng đất thì ông L1 và bà H vẫn đang trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp. Theo bà Hoàng Thị H cho rằng, bà và ông Nguyễn Tài L1 ly hôn năm 2017 và bà thống nhất giao tài sản này lại cho ông Nguyễn Tài L1 nhưng giữa bà H và ông L1 vẫn chưa làm thủ tục phân chia tài sản khi ly hôn cũng như chưa hoàn tất thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tài L1 đối với tài sản các bên thỏa thuận tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngoài bà H thì hộ ông Nguyễn Tài L1 còn có các con chung của ông L1, bà H là anh Nguyễn Thái V, anh Nguyễn Công M và chị Nguyễn Thái B. Mặc dù, quá trình giải quyết vụ án thì bà H, anh M, chị B và anh V đều thống nhất ý kiến của ông Nguyễn Tài L1 và cho rằng tại thời điểm ông L1 giao kết hợp đồng với anh L ngày 07/6/2022 thì bà H, anh M, chị B, anh V không liên quan đến tài sản là quyền sử dụng đất này nên anh M, chị B và anh V không ký thỏa thuận giao dịch, còn bà Hoàng Thị H chỉ ký với vai trò người làm chứng là không đúng quy định của pháp luật. Sau khi giao kết hợp đồng với anh L thì đến ngày 08/7/2022 hộ ông L1 mới hoàn tất thủ tục và được điều chỉnh sang tên quyền sử dụng đất cho ông L1. Như vậy, ngày 07/6/2022 ông Nguyễn Tài L1 tự đứng ra xác lập giao kết thỏa thuận chuyển nhượng và ký hợp đồng đặt cọc với anh Lê Đức L đối với diện tích đất thuộc một phần thửa 08 tờ bản đồ 26 xã N, huyện L của hộ ông Nguyễn Tài L1 là trái với quy định của pháp luật.

[2.3] Về quá trình thực hiện hợp đồng giữa hai bên thì thực tế sau khi ký kết hợp đồng và nhận tiền đặt cọc của anh L ngày 07/6/2022 thì ông Nguyễn Tài L1 cũng có thiện chí trong việc thực hiện thủ tục tách thửa, sang tên. Tuy nhiên, theo thỏa thuận khi lập hợp đồng đặt cọc giữa hai bên đã thỏa thuận thời gian thực hiện hợp là 07 tháng kể từ ngày 07/6/2022 tức đến ngày 07/01/2023 ông Nguyễn Tài L1 phải hoàn tất các thủ tục tách thửa đất để lập hợp đồng chuyển nhượng cho anh Lê Đức L diện tích đất theo đúng như thỏa thuận nhưng đến thời hạn ngày 07/01/2023 thì ông Nguyễn Tài L1 vẫn chưa hoàn tất các điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Lê Đức L.

Theo kết quả xác minh của Tòa án huyện Lâm Hà tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L thì ngày 22/12/2022, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L có nhận được hồ sơ tách thửa, tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa 08 tờ bản đồ 26 xã N, huyện L và hẹn trả kết quả ngày 15/02/2023. Mặc dù ông L1 cho rằng, theo thỏa thuận thì khi nào có họa đồ đo đạc thửa đất tách thửa thì anh L phải đặt cọc thêm số tiền là 150.000.000đ nhưng vào ngày 23/12/2022, ông Nguyễn Tài L1 có báo với anh Lê Đức L việc có họa đồ đo đạc tách thửa đất và yêu cầu thanh toán thêm số tiền 150.000.000đ nhưng anh L không thực hiện là vi phạm thỏa thuận nhưng ông Nguyễn Tài L1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc ông có nhận họa đồ đo đạc thửa đất tách thửa và đã báo với anh Lê Đức L, yêu cầu thanh toán thêm số tiền 150.000.000đ theo ý kiến trình bày của ông.

Theo tài liệu chứng cứ ông Nguyễn Tài L1 cung cấp cho Tòa án là tài liệu in tin nhắn từ Z. Qua xem xét nội dung tin nhắn thể hiện ông Nguyễn Tài L1 trao đổi thông tin với người tên “Nam”. Tại phiên tòa, ông L1 xác định, sau khi có họa đồ đo vẽ thửa đất thì ông L1 có nhắn tin qua zalo báo với ông N1 và ông N1 sẽ báo lại cho anh L nhưng giữa anh N1, ông L1 và anh L không có thống nhất việc anh N1 sẽ có nghĩa vụ báo với anh L các thông tin ông L1 chuyển cho ông N1. Trong khi đó, ông N1 cũng là người nhận chuyển nhượng đất của ông L1 tại phần đất khác, không liên quan đến thỏa thuận đặt cọc giữa anh L với ông L1. Bản thân anh L xác định ông L1 không trao đổi thông tin về họa đồ với anh và ông L1 cũng thừa nhận ông không thông tin về họa đồ trực tiếp cho anh L. Do vậy, việc ông L1 cho rằng, sau khi có họa đồ thửa dất đã báo với anh L là không có cơ sở.

[2.4] Như vậy, theo nhận định phân tích nêu trên thì việc ông Nguyễn Tài L1 thỏa thuận và ký kết hợp đồng với anh Lê Đức L đối với đất thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình và không có sự tham gia ký kết của các thành viên hộ gia đình nên hợp đồng này là vô hiệu ngay từ ban đầu khi hai bên giao kết, lỗi của các bên khi ký kết hợp đồng trong khi đất chưa đủ điều kiện giao dịch theo quy định của Luật đất đai. Hơn nữa, quá trình thực hiện thủ tục tách thửa đất thì do chính sách chung của Nhà nước, thời hạn thực hiện tách thửa có bị chậm trễ vì lý do khách quan. Đến thời hạn giao kết hợp đồng chuyển nhượng thì không thể thực hiện được nên việc anh L khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 07/6/2022 và yêu cầu ông Nguyễn Tài L1 trả lại số tiền đã đặt cọc 150.000.000đ, ngoài ra, anh L không có yêu cầu hay ý kiến gì về khoản phạt cọc là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự.

[3] Đối với số tiền đặt cọc 150.000.000đ thì anh Lê Đức L đã chuyển vào tài khoản Ngân hàng của anh Nguyễn Thái V, các bên đều thừa nhận và xác định ông L1 đã nhận đủ tiền này. Nay các bên không có tranh chấp hay yêu cầu gì về nội dung này nên không đặt ra để xem xét.

[4] Về án phí: Buộc bị đơn ông Nguyễn Tài L1 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc hủy hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 07/6/2022 và 7.500.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả cho anh L (150.000.000₫ x 5%).

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; Điều 235; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ các Điều 117, 122, 123, 124, 131 và Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Đức L về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” với ông Nguyễn Tài L1.
  2. Tuyên: Hủy hợp đồng đặt cọc giữa anh Lê Đức L và ông Nguyễn Tài L1 theo giấy ghi là “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” xác lập ngày 07/6/2022 đối với diện tích đất 1000m² thuộc một phần thửa đất số 08, tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

    Buộc ông Nguyễn Tài L1 phải trả lại cho anh Lê Đức L số tiền đặt cọc đã nhận là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp luật có quy định khác.

  3. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Tài L1 phải chịu 7.800.000đ (bảy triệu tám trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Hoàn trả cho anh Lê Đức L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.050.000₫ (Bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0012457 ngày 15/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hằng

Lài Thị Thu Hà

Nguyễn Thế Anh

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS nhân dân huyện Lâm Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2023/DS-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 93/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lực - Lý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger