|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 93/2024/HSST Ngày 18-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Khánh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Kim Đào và ông Nguyễn Công Hiến;
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Diện - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hoàng Thủy T - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 91/2024/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HS ngày 05/7/2024 đối với các bị cáo:
- Lê Văn T1; tên gọi khác: Không có; sinh ngày: 26/7/2005, tại: Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Lê Thanh T2, sinh năm 1976, nghề nghiệp: Thợ mộc và con bà Trần Thanh L, sinh năm 1978, nghề nghiệp: Làm nông, hiện cùng trú tại Khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có 03 anh, em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo Lê Văn T1 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 05/4/2024 đến nay. Có mặt.
- Trần Văn S; tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 25/01/2005, tại: Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Trần Văn C, sinh năm 1978, nghề nghiệp: Lái xe; con bà Dương Thị Thu H, sinh năm 1979, nghề nghiệp: Thợ may, hiện cùng trú tại: Khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có 03 anh, em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo Trần Văn S bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 05/4/2024 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/02/2024, Lê Văn T1 và Trần Văn S đang dừng xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 74C1-497.92 trước số nhà S đường T, thuộc Khu phố C, Phường E, thành phố Đ đợi bạn thì có một người đàn ông không rõ lai lịch đến bắt chuyện. Qua nói chuyện với nhau, người đàn ông trên thuê T1 và S vận chuyển 06 hộp pháo hoa nổ đến khu vực đường N thuộc Khu phố Đ, phường Đ, thành phố Đ để giao cho một người không rõ lai lịch với tiền công vận chuyển là 1.200.000 đồng, người nhận pháo sẽ trả tiền công. Do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên T1 và S đồng ý nhận vận chuyển số pháo hoa nổ trên. Sau đó, người đàn ông trên đến bên lề đường bưng 01 thùng giấy các tông bên trong đựng 02 bao ni lông màu đen, 01 bao đựng 04 hộp pháo hoa nổ và 01 bao đựng 02 hộp pháo hoa nổ. Sau khi nhận pháo hoa nổ thì T1 và S đã cất giấu 02 hộp pháo hoa nổ trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 74C1- 497.92, S ngồi phía sau ôm theo thùng các tông bên trong có chứa 04 hộp pháo hoa nổ còn lại. T1 điều khiển xe mô tô chở S cùng 06 hộp pháo hoa nổ nói trên đến đường N thuộc khu phố Đ, phường Đ, thành phố Đ thì bị tổ tuần tra Công an phường Đ phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ, Công an thành phố Đ phát hiện bắt giữ.
Vật chứng, tài sản thu giữ:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen, biển kiểm soát 74C1-497.92, số máy: JF94E0474255, số khung: RLHJF6339NZ618786, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- 01 hộp giấy niêm phong, đánh ký A, bên trong chứa:
- + 02 hộp giấy nghi là pháo hoa nổ, kích thước 15x15x12.5cm, vỏ bọc bên ngoài hoa văn nhiều màu, đánh ký hiệu C0834 (sau giám định còn lại 01 hộp).
- + 03 hộp giấy nghi là pháo hoa nổ, kích thước 17x17x10cm, vỏ bọc bên ngoài hoa văn nhiều màu, đánh ký hiệu C0850 (sau giám định còn lại 02 hộp).
- + 01 hộp giấy nghi là pháo hoa nổ, kích thước 17x17x10cm, vỏ bọc bên ngoài hoa văn nhiều màu, đánh ký hiệu KS4-49B (Đã giám định hết).
- 02 túi ni lông màu đen, kích thước lần lượt 64x60cm và 48x29cm.
- 01 thùng các tông kích thước 38x24x23cm.
Tại kết luận giám định số 323/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật gửi đến giám định là pháo hoa nổ, khối lượng 9,6 kg.
Quá trình điều tra, truy tố, Lê Văn T1 và Trần Văn S đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Gia đình Lê Văn T1 thuộc diện hộ cận nghèo.
Tại bản Cáo trạng số 93/CT-VKSĐH ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã truy tố các bị cáo Lê Văn T1 và Trần Văn S về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo Điểm c Khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn T1 và Trần Văn S phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 191, Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T1 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
Áp dụng Đ c Khoản 1 Điều 191; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn S 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy:
- 02 túi ni lông màu đen, kích thước lần lượt 64x60cm và 48x29cm.
- 01 thùng các tông kích thước 38x24x23cm.
- 01 (Một) pháo hoa nổ, kích thước 15x15x12.5cm, vỏ bọc bên ngoài hoa văn nhiều màu, đánh ký hiệu C0834 và 02 (Hai) pháo hoa nổ, kích thước 17x17x10cm, vỏ bọc bên ngoài hoa văn nhiều màu, đánh ký hiệu C0850 được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu A. (Thùng giấy ký hiệu A đã được niêm phong, bên ngoài có hình dấu của Phòng K, Công an tỉnh Q và chữ ký của những người tham gia niêm phong theo Kết luận giám định số 323/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Q).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp các các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Văn T1 và Trần Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng, đã có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 07/02/2024, Lê Văn T1 và Trần Văn S có hành vi vận chuyển 9,6 kg pháo hoa nổ cho một người đàn ông không rõ lai lịch để lấy 1.200.000 đồng tiền công. Đang vận chuyển đến đoạn đường N thuộc khu phố Đ, phường Đ, thành phố Đ thì bị tổ tuần tra Công an phường Đ phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ, Công an thành phố Đ phát hiện bắt giữ. Như vậy, hành vi của T1 và S vận chuyển pháo hoa nổ để kiếm tiền công, có khối lượng 9,6 kg đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo Điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu thông. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi vận chuyển hàng cấm là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử các bị cáo nghiêm minh mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ:
- - Các Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn (gia đình bị cáo T1 thuộc diện hộ cận nghèo, gia đình bị cáo S có xác nhận của chính quyền địa phương thuộc diện có hoàn cảnh khó khăn) nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xem xét về mức hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo đang tuổi mới lớn, chưa có việc làm ổn định, gia đình các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn nên việc áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo là chưa thực sự đảm bảo trong việc thi hành án. Các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, mà xem xét cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng có thể giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Do đó, áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với các bị cáo.
[5] Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không chứng minh được nhân thân lai lịch của người đàn ông thuê Lê Văn T1 và Trần Văn S vận chuyển 9,6 kg pháo hoa nổ nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với anh Lê Thanh T2 là chủ sở hữu xe mô tô mang biển kiểm soát 74C1-497.92 cho Lê Văn T1 mượn xe để sử dụng nhưng không biết việc T1 và S sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi vận chuyển pháo hoa nổ nên không xem xét xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen, biển kiểm soát 74C1-497.92, số máy: JF94E0474255, số khung: RLHJF6339NZ618786, quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra C đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Lê Thanh T2, ông T2 không có yêu cầu gì và có đơn đề nghị Tòa án không đưa ông vào tham gia tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:
Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy:
- 02 túi ni lông màu đen, kích thước lần lượt 64x60cm và 48x29cm.
- 01 thùng các tông kích thước 38x24x23cm.
- 01 (Một) pháo hoa nổ, kích thước 15x15x12.5cm, vỏ bọc bên ngoài hoa văn nhiều màu, đánh ký hiệu C0834 và 02 (Hai) pháo hoa nổ, kích thước 17x17x10cm, vỏ bọc bên ngoài hoa văn nhiều màu, đánh ký hiệu C0850 được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu A. (Thùng giấy ký hiệu A đã được niêm phong, bên ngoài có hình dấu của Phòng K, Công an tỉnh Q và chữ ký của những người tham gia niêm phong theo Kết luận giám định số 323/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Q).
[7] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố các bị cáo Lê Văn T1 và Trần Văn S phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 191; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Lê Văn T1: 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách: 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án (18/7/2024).
Bị cáo Trần Văn S: 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách: 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án (18/7/2024).
Giao các bị cáo Lê Văn T1 và Trần Văn S cho Ủy ban nhân dân Phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Phường Đ, thành phố Đ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 55/2024/HSST – LCĐKNCT ngày 21/6/2024, Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 18/2024/QĐ – TA ngày 21/6/2024 đối với bị cáo Lê Văn T1;
- Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 56/2024/HSST – LCĐKNCT ngày 21/6/2024, Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 19/2024/QĐ – TA ngày 21/6/2024 đối với bị cáo Trần Văn S.
[2] Về xử lý vật chứng: Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy:
- 02 túi ni lông màu đen, kích thước lần lượt 64x60cm và 48x29cm.
- 01 thùng các tông kích thước 38x24x23cm.
- 01 (Một) pháo hoa nổ, kích thước 15x15x12.5cm, vỏ bọc bên ngoài hoa văn nhiều màu, đánh ký hiệu C0834 và 02 (Hai) pháo hoa nổ, kích thước 17x17x10cm, vỏ bọc bên ngoài hoa văn nhiều màu, đánh ký hiệu C0850 được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu A. (Thùng giấy ký hiệu A đã được niêm phong, bên ngoài có hình dấu của Phòng K, Công an tỉnh Q và chữ ký của những người tham gia niêm phong theo Kết luận giám định số 323/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Q).
(Vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan Điều tra Công an thành 17/7/2024).
[3] Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc các bị cáo Lê Văn T1 và Trần Văn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Khánh Phương |
Bản án số 93/2024/HSST ngày 18/07/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị về vận chuyển hàng cấm (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 93/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buôn bán hang cấm
