TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 93/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17-7-2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Bá Đức;
- Ông Võ Nhân Nghĩa.
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Nhật Trường – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia phiên toà :
Bà Lê Thị Diệu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 232/2024/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 5 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 285/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 24 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thuỷ T, sinh năm 1997;
Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1988;
Địa chỉ: ấp P, xã An Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Do bị bệnh không đi lại được nên anh T1 xin Toà án xét xử vắng mặt theo Biên bản lấy lời khai ngày 05 tháng 6 năm 2024.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn Nguyễn Thị Thuỷ T trình bày:
Chị Nguyễn Thị Thuỷ T và anh Nguyễn Văn T1 tự nguyện kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên ly thân đến nay không hàn gắn được.
Trong thời gian sống chung, vợ chồng chị có hai con chung tên Nguyễn Hà M, sinh ngày 04/11/2015 và Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 14/9/2018, hiện hai con đang sống chung với anh T1.
Vợ chồng chị không có tài sản chung và cũng không có nợ chung.
Do vợ chồng chị không còn tình cảm yêu thương nhau nữa nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T1, chị không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.
Về con chung: Chị T đồng ý để anh T1 trực tiếp nuôi cả hai con. Chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi mỗi người con mỗi tháng 1.000.000 đồng.
Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Mặc dù vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm nhưng tại Biên bản lấy lời khai ngày 05 tháng 6 năm 2024, bị đơn Nguyễn Văn T1 trình bày:
Anh T1 đồng ý ly hôn với chị T. Anh T1 không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.
Về con chung : Anh T1 yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con, do hai con của anh không muốn sống riêng lẻ với nhau. Anh T1 yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Anh T1 và chị T không có tài sản chung và nợ chung nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Do bị bệnh không đi lại được nên anh T1 xin Toà án xét xử vắng mặt anh.
Phát biểu quan điểm về vụ án tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam nhận định:
Về tố tụng:
Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng và đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng. Thẩm phán, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thuỷ T.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thuỷ T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T1 được quyền trực tiếp nuôi cả hai con chung tên Nguyễn Hà M, sinh ngày 04/11/2015 và Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 14/9/2018, hiện hai con đang sống chung với anh T1.
Ghi nhận việc chị Nguyễn Thị Thuỷ T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Thuỷ T và nội dung tranh chấp cần phải giải quyết, Tòa án xác định đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình về việc: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con” được quy định tại các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.
Bị đơn Nguyễn Văn T1 hiện đang đăng ký thường trú tại ấp P, xã A, huyện M nên căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam theo trình tự sơ thẩm.
Xét thấy: Bị đơn Nguyễn Văn T1 có lời khai xin Toà án xét xử vắng mặt nên Tòa án căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T1.
[2] Về nội dung giải quyết:
Xem xét, giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thuỷ T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Chị Nguyễn Thị Thuỷ T và anh Nguyễn Văn T1 tự nguyện kết hôn năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre nên hôn nhân của chị T và anh T1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Sau khi kết hôn, chị T và anh T1 sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn nên ly thân đến nay không hàn gắn được và chị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh T1.
Mặc dù vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm nhưng tại Biên bản lấy lời khai ngày 05 tháng 6 năm 2024, anh T1 đồng ý ly hôn với chị T, cho thấy anh T1 không muốn hàn gắn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.
Các đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về con chung: Tại phiên toà sơ thẩm, chị T đồng ý để anh T1 trực tiếp nuôi cả hai con, chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi mỗi người con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Sự tự nguyện của chị T phù hợp với yêu cầu của anh T1, phù hợp với mong muốn của cháu Nguyễn Hà M và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đề cập đến.
[3] Về án phí:
Chị Nguyễn Thị Thuỷ T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng.
Chị Nguyễn Thị Thuỷ T phải chịu án phí về việc cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.
[4] Xét thấy quan điểm và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 24 và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thuỷ T.
Chị Nguyễn Thị Thuỷ T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
Các đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.
- Về con chung:
Giao cho anh Nguyễn Văn T1 được quyền trực tiếp nuôi hai con chung tên Nguyễn Hà M, sinh ngày 04/11/2015 và Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 14/9/2018, hiện hai con đang sống chung với anh T1.
Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của chị Nguyễn Thị Thuỷ T. Buộc chị Nguyễn Thị Thuỷ T cấp dưỡng nuôi mỗi người con mỗi tháng 1.000.000(một triệu) đồng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi con chung tròn mười tám tuổi.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đề cập đến.
- Về án phí:
Chị Nguyễn Thị Thuỷ T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0005489, ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam là đủ.
Chị Nguyễn Thị Thuỷ T phải nộp án phí về việc cấp dưỡng nuôi con là 300.000(ba tram nghìn) đồng.
- Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có mặt có quyền làm đơn kháng cáo Bản án; bị đơn vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ đã ký Lê Chí Nhân |
Bản án số 93/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
- Số bản án: 93/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Thuỷ T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1. Các đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.
