|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 93/2023/HNGĐ – ST. Ngày: 15-11-2023. V/v: Tranh chấp ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thúy Kiên.
2. Bà Thái Ánh Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - Thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - Thành Cần Thơ tham gia phiên tòa: không.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 186/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 210/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích T - Sinh 1980; Địa chỉ: khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn K - Sinh 1979. Ông K bị câm, điếc; có bà Nguyễn Thị Mỹ V, sinh năm: 1960; Cùng địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ là mẹ ruột ông K làm người phiên dịch cho ông K.
(các đương sự xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn kiện ngày 11/7/2023, Bản khai ngày 03/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Tuấn K do mai mối và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào năm 2000, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi cưới thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, ông K không quan tâm đến vợ con, vợ chồng thường xảy ra bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dẫn đến hạnh phúc gia đình đổ vỡ. Mặc dù bà đã tìm nhiều giải pháp hàn gắn nhưng không có kết quả nên bà quyết định sống ly thân với ông K từ khoảng năm 2021 cho đến nay. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với ông Nguyễn Tuấn K nên bà yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Thời gian chung sống bà và ông K có 02 con chung tên: Nguyễn Thị Ngọc H; sinh ngày: 09/8/2004, Nguyễn Thái D; sinh ngày: 24/5/2000, hiện các con chung đã đủ tuổi trưởng thành và đủ khả năng lao động, nên không đặt vấn đề yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình chung sống bà và ông K không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đồng thời, do hiện nay bận công việc gia đình và nhận thấy quá trình Tòa án thu thập chứng cứ đã thu thập đầy đủ ý kiến cũng như yêu cầu của bà nên bà yêu cầu được vắng mặt tại các phiên tòa xét xử của Tòa án, bà cam kết không khiếu nại gì về sau.
Ngoài ra, bà không yêu cầu gì khác.
* Tại Bản tự khai ngày 03/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Tuấn K trình bày :
- Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về thời gian ông và bà T sống, có tổ chức lễ cưới, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn như thời gian ly thân ông cũng thống nhất như bà T bày. Do thời gian ly thân đã lâu và hiện tại tình cảm của ông với bà T cũng không còn nên ông cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T.
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Ông thống nhất với ý kiến trình bày của nguyên đơn, không ý kiến gì khác.
Đồng thời, do bận công việc gia đình và nhận thấy quá trình Tòa án thu thập chứng cứ đã thu thập đầy đủ ý kiến cũng như yêu cầu của ông nên ông yêu cầu được vắng mặt tại các phiên tòa xét xử của Tòa án, ông cam kết không khiếu nại gì về sau.
Ngoài ra, ông không trình bày gì thêm.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo hợp lệ đến các đương sự về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải giữa các bên và động viên các đương sự bỏ qua mâu thuẫn, trở về đoàn tụ, đăng ký kết hôn và xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu ly hôn nên vụ án được đưa ra xét xử công khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: bà Nguyễn Thị Bích T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn K. Do đó, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông K có địa chỉ thường trú và hiện nay vẫn còn đang sinh sống tại khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về hôn nhân: Bà T và ông K chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tại địa phương, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống do tính tình không phù hợp nên giữa ông bà thường xảy ra bất đồng quan điểm sống làm cho đời sống hôn nhân không đạt được hạnh phúc. Đến năm 2021 thì ông, bà chính thức sống ly thân và cho đến nay ông, bà vẫn không có giải pháp để hàn gắn tình cảm. Nay bà T yêu cầu được ly hôn với ông K, về phía ông K cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T. Xét, ông K và bà T có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình nhưng ông K và bà T không đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Nay bà T yêu cầu ly hôn với ông K là không có cơ sở, mà áp dụng khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình tuyên bố không công nhận ông, bà là vợ chồng.
[3.2] Về con chung: Ông K và bà Thủy chung sống có 02 con chung tên: Nguyễn Thị Ngọc H; sinh ngày: 09/8/2004, Nguyễn Thái D; sinh ngày: 24/5/2000, hiện các con chung đã đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động, nên ông, bà không đặt vấn đề yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[3.4] Về án phí hôn gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 51, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên bố:
- - Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận mối quan hệ giữa ông Nguyễn Tuấn K và bà Nguyễn Thị Bích T là vợ chồng.
- - Về án phí hôn gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Bích T phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) mà bà T đã nộp theo Biên thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004146 ngày 16/10/2023 của Chi Cục hành án dân sự quận T, thành phố Cần Thơ (công nhận bà T đã nộp xong).
- - Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Mộng Tuyền |
Bản án số 93/2023/HNGĐ – ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 93/2023/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận mối quan hệ giữa ông Nguyễn Tuấn K và bà Nguyễn Thị Bích T là vợ chồng.
