Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/DS-ST

Ngày: 14/8/2024

V/v tranh chấp hợp đồng dân sự

về đặt cọc mua bán tài sản (lúa)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Hồng Gái;

Ông Nguyễn Tấn Lập;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 214/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng dân sự về đặt cọc mua bán tài sản (lúa) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Cần Thơ (Có mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền:

Anh Trịnh Hoàng K, sinh năm: 1981. Chỗ ở hiện nay: B đường số B, khu dân cư E, phường P, Quận N, Thành phố Cần Thơ (Có mặt).

Ông Đỗ Văn K1, sinh năm: 1966. Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).

(Theo giấy uỷ quyền ngày 10/5/2024).

- Bị đơn: Anh Trương Văn P, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/5/2024,và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Thông qua bàn bè anh T nhờ anh Trương Văn P làm cò giúp anh mua lúa. Công việc hàng ngày của P là thông báo với anh T qua điện thoại về xứ đồng, số lượng, loại lúa, giá lúa. Anh T đồng ý mua, thì chuyển tiền cho P, P chịu trách nhiệm chi trả tiền mua lúa, kiểm, đếm, vận chuyển lúa xuống ghe cho anh T.

Bằng hình thức mua bán như trên, anh T đã 04 lần giao dịch với anh P và chuyển cho anh P tổng số tiền 1.090.000.000 đồng để đặt cọc mua lúa. Sau mùa vụ Đ năm 2023, anh T và anh P đối trừ số tiền cọc, tiền lời lãi, anh P thống nhất còn nợ anh T số tiền 720.000.000 đồng. Đây là số tiền lúa anh T chuyển cho anh P để thực hiện việc mua lúa qua các lần còn dư lại.

Trách nhiệm của anh P là phải trả lại ngay cho anh T số tiền 720.000.000 đồng nói trên ngay khi hai bên kết sổ với nhau. Tuy nhiên, tại thời điểm đối trừ tiền cọc, tiền mua lúa, anh P đã không trả tiền cho anh T. Do dị nể trong quá trình làm ăn, thông qua các anh em bạn bè, nên anh T để cho anh P nợ lại 10 ngày. Đến ngày 06/5/2023, P phải trả dứt điểm số tiền đã chiếm dụng cho anh T. Sau nhiều lần liên hệ yêu cầu, thì anh P chỉ trả thêm cho anh T được số tiền 140.000.000 đồng. Số tiền anh P còn thiếu lại là 580.000.000 đồng, đến nay vẫn cố tình chiếm đoạt của anh T.

Anh T yêu cầu Toà án buộc anh Trương Văn P phải có nghĩa vụ trả cho anh T số tiền còn nợ là 580.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi 10%/năm từ ngày 06/5/2023 đến ngày 06/5/2024 là 58.000.000 đồng, tổng cộng là 638.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi chậm trả cho đến khi anh P hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho anh.

Bị đơn anh Trương Văn P trình bày:

Anh thì nhận tiền của ông T đi đặt cọc lúa với người dân sản xuất lúa, anh em mua bán lúa chung đưa qua. Sau đó hẹn ngày giờ giao lúa cho anh T.

Anh với anh T quen biết trước, nhưng chỉ mới làm ăn với anh T từ đầu năm 2023. Cụ thể, anh T chuyển cho anh được 1.090.000.000 đồng, anh đã đặt cọc và giao lúa cho anh T được số tiền 400.000.000 đồng, nên số tiền anh T chuyển cho anh còn 690.000.00 đồng, tính thêm số tiền anh phải bồi thường thêm 30.000.000 đồng (do người anh giao tiền đặt cọc không có lúa), nên tổng cộng là 720.000.000 đồng. Anh đã trả 20.000.000 đồng tiền mặt cho anh T, sau đó anh có chuyển khoản cho anh em đòi tiền bên anh T (Cụ thể là anh P1) 120.000.000 đồng, tổng cộng là 140.000.000 đồng, như anh T trình bày trong đơn khởi kiện là anh đã trả cho ông T được 140.000.000 đồng.

Ngoài ra, anh có chuyển cho anh em ngoài xã hội (bên anh T có nhờ để đòi nợ anh) thêm 150.000.000 đồng, cụ thể:

  • Ngày 30/6/2023, chuyển vào tài khoản của anh Ú 20.000.000 đồng;
  • Ngày 01/7/2023, chuyển vào tài khoản của anh Út H thêm 40.000.000 đồng;
  • Ngày 25/7/2023, chuyển vào tài khoản của anh C thêm 80.000.000 đồng;
  • Ngày 25/7/2023, đưa tiền mặt cho anh C thêm 10.000.000 đồng.

Đối với những người anh đã chuyển tiền vào tài khoản để đưa cho anh T, những anh em này bên xã hội bên ngoài và bên phe của anh T, nên hiện nay không biết ở đâu và làm gì, nên không thể cung cấp cho Quý T1. Do đó, để anh tự gặp và làm việc với những người này.

Đối với việc anh T yêu cầu tính lãi 10% từ ngày 06/5/2023 cho đến khi thanh toán xong nợ, thì tiền này là tiền làm ăn giữa anh em qua lại, anh cũng đã đặt cọc mua lúa của nhiều người khác, cũng bị giật và chưa thu lại tiền được. Do đó, đây không phải là tiền vay mượn, nên không đồng ý việc anh T yêu cầu tính lãi.

Đối với số tiền gốc 580.000.000 đồng, hiện nay anh làm Công ty, không còn mua bán cò lúa như trước, nên anh xin trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong nợ, vì anh còn lo cho vợ và con nhỏ.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T và người đại diện theo ủy quyền yêu cầu một mình anh Trương Văn P phải có nghĩa vụ trả cho T số tiền gốc là 580.000.000 đồng và tiền lãi từ 06/5/2023 đến ngày xét xử 14/8/2024 là 15 tháng 08 ngày với lãi suất 10%/năm (0,83%/tháng) là 73.493.733 đồng (làm tròn 73494.000 đồng), với tổng số tiền gốc và lãi là 653.494.000 đồng yêu cầu Tòa án tiếp tục tính lãi khoản tiền gốc 580.000.000 đồng cho đến khi xét xử xong vụ án.

Anh Trương Văn P trình bày: Anh đồng ý trả cho anh Nguyễn Quốc T số tiền gốc 580.000.000 đồng, không đồng ý trả tiền lãi, vì tiền này là tiền làm ăn, chứ không phải là tiền vay mượn. Đồng thời anh xin anh P trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng hoặc mỗi vụ lúa trả 20.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong nợ cho anh T.

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, HĐXX và việc chấp hành pháp luật của các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, thu thập chứng cứ đủ cơ sở để đưa vụ án ra xem xét giải quyết.

Về hướng đề nghị giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh Trương Văn P phải trả cho anh Nguyễn Quốc T số tiền gốc, lãi tính đến ngày xét xử là 653.494.000 đồng yêu cầu Tòa án tiếp tục tính lãi khoản tiền gốc 580.000.000 đồng theo mức lãi suất quy định từ ngày 15/8/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Trương Văn P phải có nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định vụ án này như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện, anh Nguyễn Quốc T yêu cầu một mình anh Trương Văn P phải có nghĩa vụ trả lại khoản tiền đã giao cho anh P để đặt cọc mua lúa còn nợ. Xét thấy đây là tranh chấp hợp đồng dân sự về đặt cọc mua bán tài sản (lúa), bị đơn anh Trương Văn P có nơi cư trú ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Anh Trương Văn P có vợ là Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1986 đang ở cùng với anh P tại địa chỉ ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Chị T2 có bản tự khai đề ngày 17/6/2024 (BL 37) với nội dung: Việc chồng chị (Trương Văn P) thỏa thuận về việc đặt cọc mua lúa với anh Nguyễn Quốc T, chị hoàn toàn không biết, chị không tham gia vào việc này. Do đó, khi xảy ra tranh chấp với anh T, thì chị không có liên quan và không có nghĩa vụ gì trong vụ án này. Chị T2 đề nghị Tòa án không đưa chị vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Do đó, HĐXX không đưa chị Nguyễn Thị T2 tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người đại diện theo uỷ quyền ông Đỗ Văn K1 vắng mặt, nhưng anh Nguyễn Quốc T có mặt tại phiên toà và yêu cầu HĐXX giải quyết vắng mặt ông K1. Do đó, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Anh Trương Văn P phải có nghĩa vụ trả cho T số tiền gốc là 580.000.000 đồng và tiền lãi từ 06/5/2023 đến ngày xét xử 14/8/2024 là 15 tháng 08 ngày với lãi suất 10%/năm (0,83%/tháng) là 73.494.000 đồng, với tổng số tiền gốc và lãi là 653.494.000 đồng yêu cầu Tòa án tiếp tục tính lãi khoản tiền gốc 580.000.000 đồng cho đến khi xét xử xong vụ án.

[2.1.1] Đối với số tiền gốc 580.000.000 đồng: Tại Biên bản lấy lời khai ngày 14/6/2024 (BL 32), Biên bản không tiến hành hòa giải được ngày 26/6/2024 (BL 39-40) và tại phiên tòa, anh P đều thừa nhận còn nợ số tiền đặt cọc lúa mà anh T đã chuyển sau khi cấn trừ và chốt lại là 580.000.000 đồng. Đây là các tình tiết được các bên đương sự thừa nhận, nên không cần phải chứng minh và được xem là chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, HĐXX có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Còn đối với việc anh P cho rằng có chuyển cho anh em ngoài xã hội (bên anh T có nhờ để đòi nợ anh) thêm 150.000.000 đồng cho anh T, cụ thể: Ngày 30/6/2023, chuyển vào tài khoản của anh Ú 20.000.000 đồng; Ngày 01/7/2023, chuyển vào tài khoản của anh Út H thêm 40.000.000 đồng; Ngày 25/7/2023, chuyển vào tài khoản của anh C thêm 80.000.000 đồng; Ngày 25/7/2023, đưa tiền mặt cho anh C thêm 10.000.000 đồng. Việc này không được anh T thừa nhận, anh P không cung cấp được những người anh đã chuyển tiền nêu trên ở đâu và làm gì cho Quý T1. Do đó, nếu anh P có chứng cứ và biết những người nêu trên ở đâu, thì có thể khởi kiện họ thành vụ án khác.

[2.1.2] Đối với việc anh T yêu cầu anh P phải trả tiền lãi từ 06/5/2023 đến ngày xét xử 14/8/2024 là 15 tháng 08 ngày với lãi suất 10%/năm (0,83%/tháng) là 73.494.000 đồng.

Anh P cho rằng việc anh T giao tiền cho anh là tiền làm ăn giữa anh em qua lại, anh P cũng đã đặt cọc mua lúa của nhiều người khác, cũng bị giật và chưa thu lại tiền được. Do đây, đây không phải là tiền vay mượn, nên không đồng ý việc anh T yêu cầu tính lãi.

Sau khi anh P ký các hợp đồng bao tiêu lúa tươi với anh T. Anh P đã không tiến hành thực hiện đúng các nội dung đã cam kết trong hợp đồng. Nên xét về lỗi, thì đây là lỗi của anh P trong quá trình thực hiện hợp đồng. Số tiền nợ còn lại, sau khi trừ ra số lúa anh T đã nhận, thì anh P không hoàn trả cho anh T đầy đủ, mà chỉ trả cho anh T được 140.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền 580.000.000 đồng, anh P không tiếp tục thực hiện trả lại, mặc dù đã được anh T yêu cầu nhiều lần. Do vậy, anh P phải chịu lãi chậm trả với lãi suất 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 là phù hợp. Vì vậy, xét cần buộc anh P phải trả số tiền lãi chậm trả tính 06/5/2023 đến ngày xét xử 14/8/2024 là 15 tháng 08 ngày với lãi suất 10%/năm (0,83%/tháng) là 73.494.000 đồng là thỏa đáng.

[2.2] Đối với trình bày của anh P về việc xin anh T cho anh xin trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng hoặc mỗi vụ lúa trả 20.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong nợ, vì anh còn lo cho vợ và con nhỏ. Tuy nhiên, anh T và người đại diện theo ủy quyền không đồng ý và yêu cầu anh P trả lại một lần số tiền nợ. Theo quy định tại mục 1 phần III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ T3 hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản có quy định: Tòa án không ấn định trong Bản án, Quyết định thời điểm hoặc thời hạn bên có nghĩa vụ thi hành án, nên HĐXX không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu này của anh P. Tuy nhiên, nếu anh P thật sự có khó khăn về kinh tế, thì có thể làm đơn yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Do đó, trong quá trình nghị án và thảo luận, HĐXX có cơ sở chấp nhận đề nghị Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nguyên đơn. Buộc anh Trương Văn P có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Quốc T số tiền gốc lãi tính đến ngày xét xử (14/8/2024) là 653.494.000 đồng và tiếp tục chịu lãi trên số tiền gốc 580.000.000 đồng theo mức lãi suất quy định từ ngày 15/8/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 26, Điều 47, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Buộc anh Trương Văn P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 653.494.000 đồng phải trả cho Nguyễn Quốc T là 30.139.760 đồng (làm tròn 30.140.000 đồng).

- Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn anh Nguyễn Quốc T.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 68, Điều 92, Điều 147; Điều 266, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 328, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Áp dụng khoản 2 Điều 26, Điều 47, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Buộc anh Trương Văn P có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Quốc T số tiền gốc lãi tính đến ngày xét xử (14/8/2024) là 653.494.000₫ (Sáu trăm năm mươi ba triệu bốn trăm chín mươi bốn nghìn đồng) và tiếp tục chịu lãi trên số tiền gốc 580.000.000 đồng theo mức lãi suất 10% từ ngày 15/8/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Buộc anh Trương Văn P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm 30.140.000₫ (Ba mươi triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng).
    • - Hoàn trả cho anh Nguyễn Quốc T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 13.600.000₫ (Mười ba triệu sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001115 ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (Do Đỗ Văn K1 nộp thay).
  3. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo theo hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/8/2024); Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thì được quyền kháng cáo Bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Hòn Đất;
  • - THADS huyện Hòn Đất;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Nguyễn Thanh H1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự về đặt cọc mua bán tài sản (lúa)

  • Số bản án: 93/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dân sự về đặt cọc mua bán tài sản (lúa)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc Th kiện Trương Văn Ph
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger