Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14 - 5 - 2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Đăng Thiện
  2. Bà Lê Thị Kim

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Tỉnh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 342/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023 về "ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1994, địa chỉ: Thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Chí H1, sinh năm 1982, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt (Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 23 tháng 11 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Lê Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Chí H1 qua tìm hiểu, lấy

2

nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T vào ngày 02/12/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc tại thị trấn T, sau đó vợ chồng vào Bình Dương làm ăn. Tuy nhiên, từ tháng 6/2021 thì hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng trong sinh hoạt gia đình, anh H1 không tu chí làm ăn mà suốt ngày ăn nhậu, chơi bời, tụ tập bạn bè, chị và gia đình đã góp ý nhiều lần nhưng anh H1 không thay đổi mà còn vô cớ chửi bới, đánh đập chị. Chị đã cố gắng chịu đựng nhưng anh H1 không thay đổi, vợ chồng chung sống không có hạnh phúc. Đến cuối tháng 6/2021 chị đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ chị sinh sống, vợ chồng ly thân cho đến nay, không còn qua lại với nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, nên chị đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: Chị H xác định vợ chồng có 01 con chung, tên là Hoàng Lê Anh Đ, sinh ngày 26/8/2018. Con hiện nay đang ở với chị H. Ly hôn nguyện vọng của chị H là xin được trực tiếp nuôi con chung; chị H có ý kiến không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng.

Về tài sản và công nợ: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Hoàng Chí H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không đến Tòa án làm việc, vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không lấy được lời khai.

Tại biên bản xác minh lập ngày 01/4/2024, đại diện UBND thị trấn T cho biết: Chị Lê Thị H và anh Hoàng Chí H1 có quan hệ là vợ chồng, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T vào ngày 02/12/2014. Qúa trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Lê Anh Đ, sinh ngày 26/8/2018, con hiện đang ở với chị H. Về nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng địa phương không nắm bắt được do gia đình không báo cáo và không yêu cầu hòa giải ở cơ sở. Hiện nay vợ chồng đã ly thân.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến, như sau:

  1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
    1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
    2. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
    3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, là thực hiện chưa đầy đủ Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, xét vi phạm đó không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình giải quyết vụ án.
  2. Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
  3. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

3

Điều 271 khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị H. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

- Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Hoàng Chí H1.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Lê Anh Đ, sinh ngày 26/8/2018 cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên miễn xét.

- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Lê Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị H khởi kiện đề nghị giải quyết xin được ly hôn với anh Hoàng Chí H1, cư trú tại: Khu phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Qúa trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Hoàng Chí H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng; Tại phiên tòa hôm nay bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn là chị Lê Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị H và anh Hoàng Chí H1 là hôn nhân hợp pháp, anh chị tự nguyện kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân thị trấn T cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 02/12/2014. Trong quá trình vợ chồng chung sống với nhau, thời gian đầu tình cảm giữa vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên từ tháng 6/2021 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn về tình cảm, do bất đồng trong sinh hoạt gia đình, giữa vợ chồng không có sự tin tưởng, tôn trọng và chia sẻ với nhau, nên đã thường xuyên xảy ra cãi vã và xúc phạm nhau; Từ cuối tháng 6/2021 vợ chồng đã ly thân cho đến nay. Qúa trình giải quyết vụ án, chị H một mực đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn, còn anh H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết được Tòa án đang thụ lý giải quyết quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng, nhưng không đến Tòa án làm việc để

4

trình bày quan điểm, cũng như tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa, điều đó thể hiện anh H1 không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của chị H, xử cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Hoàng Chí H1.

[3] Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Hoàng Chí H1 có 01 con chung là cháu Hoàng Lê Anh Đ, sinh ngày 26/8/2018.

Xét nguyện vọng xin được nuôi con chung của chị H, thấy rằng: Thực tế hiện nay con chung là cháu Đ đang ở ổn định với chị H, được chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Quá trình giải quyết vụ án, chị H đã chứng minh được các điều kiện để nuôi con, trong khi anh H1 không đến Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến về nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, cần thiết giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung, xét đây là sự tự nguyện của chị H và phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận. Do đo, anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về phần tài sản và công nợ: Chị Lê Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Hoàng Chí H1 không có lời khai trong hồ sơ. Do đó, không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Hoàng Chí H1.
  2. Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Hoàng Chí H1 có 01 (một) con chung là cháu Hoàng Lê Anh Đ, sinh ngày 26/8/2018.
  3. Giao con chung là cháu Hoàng Lê Anh Đ cho chị Lê Thị H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Hoàng Chí H1 không phải cấp dưỡng nuôi con

5

chung. Anh Hoàng Chí H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

  1. Về tài sản và công nợ: Không xem xét.
  2. Về án phí: Chị Lê Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị H đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004967 ngày 15/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân. Như vậy, chị Lê Thị H đã nộp đủ tiền án phí.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân;
  • - P. kiểm tra nghệp vụ và THA,
  • TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - UBND thị trấn Thọ Xuân;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Minh Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 93/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger