|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 93/2024/HS-ST Ngày: 13-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Đắc Toàn và bà Nguyễn Thị Thuý Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Văn Lê Hoài Khiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 221/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2024/HSST-QĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2024/HSST-QĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2024/HSST-QĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Công D, sinh ngày: 18/4/2000 tại: Bình Định; Nơi cư trú: Khu phố T, TT. T, huyện T, Bình Định; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Vĩnh L (sinh năm: 1975) và bà: Nguyễn Thị Ngọc P (sinh năm: 1975); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 24/9/2020, bị TAND huyện Tuy Phước xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 05/8/2021.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Bình Định.
- Người làm chứng:
- Nguyễn Đức T, sinh năm: 1993 “Có mặt”
Trú tại: Thôn Q, xã P, huyện T, Bình Định.
Hiện đang thi hành án phạt tù tại Trại giam K.
- Huỳnh Văn S, sinh năm: 1996 “có mặt”
Trú tại: Thôn Đ, xã P, huyện T, Bình Định.
Hiện đang thi hành án phạt tù tại Trại giam S1.
- Phan Công T1, sinh năm: 2002 “có mặt”
Trú tại: Thôn P, xã P, huyện T, Bình Định.
Hiện đang thi hành án phạt tù tại Trại giam S1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 22/02/2023, Nguyễn Đức T, Huỳnh Văn S và Phan Công T1 ăn nhậu tại nhà của T1. Sau khi nhậu xong, cả nhóm mang điện thoại của từng người đi cầm cố lấy số tiền 3.500.000 đồng để mua ma túy sử dụng. Sau đó, T dùng tài khoản Facebook “Nguyễn T” để liên lạc với tài khoản Facebook “Danh Cậu” của Nguyễn Công D hỏi mua “nửa hộp năm” ma túy khay và 02 viên thuốc lắc. Lúc này, D dùng sim khuyến mãi gọi điện thoại cho một thanh niên (không rõ lai lịch) hỏi mua “nửa hộp năm” ma túy khay và 02 viên thuốc lắc với giá 2.900.000 đồng và một mình đi đến đoạn đường vắng trên Quốc lộ A, phường G, thành phố Q gặp người này lấy ma túy và đưa số tiền 2.900.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D hẹn T đến ngã tư Chợ D thuộc phường N, TP . để giao ma túy. Khoảng 16 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô 77L1 – 870.15 chở T1 và S đến ngã tư Chợ D gặp D. D đưa T một gói ma túy khay, 02 viên thuốc lắc, T đưa 2.900.000 đồng cho D. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chở T1 và S đến quán K1, thuộc thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định thuê phòng số 2 để tổ chức sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện T kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Tối cùng ngày, D nghe thông tin nhóm của T, T1, S bị bắt quả tang nên D đã tháo sim điện thoại vứt bỏ rồi đến bến xe Q đón xe khách đến thành phố P, tỉnh Gia Lai trốn. Đến ngày 08/9/2023, D đến Cơ quan điều tra Công an huyện T trình diện, khai báo toàn bộ hành vi phạm tội.
Ngày 24/02/2023, Phòng K2 Công an tỉnh B ban hành kết luận số 78/KL-KTHS, kết luận: Chất bột màu trắng đựng bên trong 01 (một) gói ni lông thu giữ từ nhóm của Nguyễn Đức T, gửi giám định có khối lượng 0,2491 gam, là ma túy loại Ketamine.
Ketamine nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số thứ tự là 40, danh mục III, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Về vật chứng, ngày 08/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ của Nguyễn Công D 01 điện thoại di động hiệu iPhone Xs Max, màu vàng GOLD, số máy: MT5X2LL/A, số seri: F2MXD5QMKPHF, số imei: 357278091925199, gắn sim số 0328717121 (Đã qua sử dụng).
Bản Cáo trạng số 06/CT - VKSQN ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Công D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Công D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Công D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Công D từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu iPhone Xs Max, màu vàng GOLD, số máy: MT5X2LL/A, số seri: F2MXD5QMKPHF, số imei: 357278091925199, gắn sim số 0328717121 (Đã qua sử dụng). Truy thu của bị cáo 2.900.000 đồng.
- Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 22/02/2023 bị cáo Nguyễn Công D mua “nửa hộp năm” ma túy “khay” và 02 viên “thuốc lắc” của một người thanh niên không rõ lai lịch, sau đó đến khoảng 16 giờ cùng ngày bán lại cho Nguyễn Đức T với giá 2.900.000 đồng. Sau khi mua ma tuý từ bị cáo D, nhóm Nguyễn Đức T gồm có T, Huỳnh Văn S, Phan Công T1 đem ma tuý đến quán K1, thuộc thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định thuê phòng để sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện T kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Ngày 24/02/2023, Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Chất bột màu trắng đựng bên trong 01 (một) gói ni lông thu giữ từ nhóm của Nguyễn Đức T, gửi giám định có khối lượng 0,2491 gam, là ma túy loại Ketamine.
Bị cáo Nguyễn Công D là người có đầy đủ sức khỏe, năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết tác hại rất lớn của ma túy gây ra cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm nên việc cất giữ, mua bán, sử dụng chất ma túy phải theo quy định đặc biệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Nhưng do tham lam, muốn có tiền tiêu xài, bất chấp pháp luật nên vào ngày 22/02/2023 bị cáo đã bán ma túy loại Ketamine cho Nguyễn Đức T. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Công D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Hành vi mua bán trái phép chất ma túy do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, sau khi biết những người mua ma túy của mình bị phát hiện bắt giữ, bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn trong quá trình điều tra nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét về nhân thân; tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ của bị cáo thì thấy:
- 4.1 Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Tòa án xét xử về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- 4.2 Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- 4.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, trong quá trình điều tra bị cáo ra đầu thú, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo tốt.
[5] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ 01 điện thoại iphone sX Max của bị cáo. Xét thấy bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước (riêng các sim điện thoại thì tiêu hủy).
Về truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước: Bị cáo bán ma tuý cho Nguyễn Đức T thu lợi 2.900.000 đồng nên truy thu số tiền này của bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về vấn đề khác:
7.1. Về lai lịch người bán ma túy, Nguyễn Công D khai nhận: Khoảng đầu tháng 12/2022, D đi làm nhân viên tại một quán karaoke (Không nhớ tên) ở địa bàn TP Q thì quen biết nam thanh niên là khách hay đến hát, qua vài lần gặp gỡ nói chuyện người này nói với D khi nào có ai muốn mua ma túy thì gọi cho anh ta và cho Danh số điện thoại. Tên tuổi, lai lịch, địa chỉ cụ thể người này D không biết, số điện thoại người này lưu trong sim khuyến mãi, chiếc sim này D đã vứt đi cùng chiếc sim 0867852567 vào ngày 22/02/2023, D cũng không nhớ số điện thoại của người này. Vì vậy, không có căn cứ để tiến hành xác minh làm rõ về nhân thân lai lịch của nam này.
7.2. Nguyễn Đức T, Phan Công T1, Huỳnh Văn S là những người mua ma túy của bị cáo về để sử dụng nhưng bị phát hiện, bắt giữ. Ngày 16/8/2023, T, T1, S đã bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước xử phạt tù về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Công D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2023.
- Về xử lý vật chứng và truy thu sung vào Ngân sách nhà nước:
- - Xử lý vật chứng: Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone Xs Max, màu vàng GOLD, số máy: MT5X2LL/A, số seri: F2MXD5QMKPHF, số imei: 357278091925199, gắn sim số 0328717121 (Đã qua sử dụng). Riêng sim điện thoại thì tịch thu tiêu hủy.
- - Truy thu sung vào Ngân sách nhà nước: Truy thu của bị cáo Nguyễn Công D 2.900.000 (hai triệu chín trăm nghìn) đồng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Quy Nhơn).
- Án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Phạm Thị Hồng Diễm |
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 22/02/2023 bị cáo Nguyễn Công D mua “nửa hộp năm” ma túy “khay” và 02 viên “thuốc lắc” của một người thanh niên không rõ lai lịch, sau đó đến khoảng 16 giờ cùng ngày bán lại cho Nguyễn Đức T với giá 2.900.000 đồng. Sau khi mua ma tuý từ bị cáo D, nhóm Nguyễn Đức Tài gồm có Tài, Huỳnh Văn Sanh, Phan Công Tứ đem ma tuý đến quán Karaoke Tư Lai 2, thuộc thôn Hanh Quang, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định thuê phòng để sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện TP kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Ngày 24/02/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định kết luận: Chất bột màu trắng đựng bên trong 01 (một) gói ni lông thu giữ từ nhóm của Nguyễn Đức T, gửi giám định có khối lượng 0,2491 gam, là ma túy loại Ketamine.
