Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 93/2024/HS-ST

Ngày 12-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hiền

Ông Nguyễn Tấn Hưng

- Thư ký phiên tòa:

Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Duy T2 (tên gọi khác CoCa), sinh ngày 02 tháng 02 năm 2004 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Phạm Văn L và bà T Bé S; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/3/2024, cho bảo lĩnh ngày 11/7/2024, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Chí N, sinh ngày 13 tháng 11 năm 2003 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp N, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn D (Vòi) và bà Đậu Thị Đ; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/3/2024, cho bảo lĩnh ngày 04/5/2024 (HS không thống nhất ngày cho bảo lĩnh, căn cứ vào biên bản giao nhận), hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  3. Nguyễn Văn G, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2004 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn C và bà Ngô Thị N1; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/3/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
  4. Dương Quốc Đ1, sinh ngày 09 tháng 02 năm 2005 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi ĐKTT: ấp N, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Nơi ở hiện nay: ấp H X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Dương Văn D1 và bà Huỳnh Thị Út N2; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/3/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
  5. Trương Đức M, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2004 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Lê Văn T1 và bà Trương Hồng L1; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Chí N:

Ông Trần K - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K (có mặt)

- Bị hại:

  • + Nguyễn Văn H, sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp N, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
  • + Huỳnh Sơn L2, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp A H, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
  • + Ngô Văn K1, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 20/11/2023, bị can Phạm Duy T2 (Coca) và bị can Nguyễn Chí N uống bia cùng anh Võ Việt X, Bùi Duy T3, Nguyễn Văn Q (Tên khác: Năm C1), ở quán bida tên MỞ thuộc ấp N, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang, sau đó có Nguyễn Văn H, Huỳnh Sơn L2, Ngô Văn K1 cùng đến và ngồi uống chung, do có mâu thuẫn từ trước giữa Q và bị can T2 trước đây T2 có ném vỏ chai bia vào xe của Q nhưng không trúng, ngồi được một lúc thì T2 bỏ đi về trước cùng bị can N, lúc này H mới hỏi T2 “Hôm trước mày chọi xe Năm C1 (Quyền) phải không?” thì T2 không trả lời mà lên xe đi về luôn, đi được một đoạn thì bị can T2 rủ bị can N quay lại quán để chém H trả thù và bị can N đồng ý. Sau đó, N gọi điện thoại cho bị can Nguyễn Văn G rủ đi chung thì G đồng ý, khi đến nhà bị can G thì G lấy ra 05 cây mã tấu loại dao tự chế, dài khoảng 60 - 70 cm, G rủ thêm bị can Trương Đức M và bị can Dương Quốc Đ1 đi chung thì cả hai bị can cũng đồng ý đi cùng, bị can G đưa cho các bị can T2, N, M, Đ1 và bị can G mỗi người 01 cây mã tấu.

Sau khi đến quán “MỞ” thấy nhóm người của H, L2, K1, X, T3, (Q đã đi về nhà) đang ngồi nhậu thì cả nhóm 05 bị can cầm dao nhàu vô chém loạn xạ, làm cho các bị hại Nguyễn Văn H, Huỳnh Sơn L2, Ngô Văn K1 bị thương nặng bỏ chạy ra khỏi quán. Lúc này cả nhóm của T2 định ra về thì bị can G thấy L2 đang đứng chỗ bụi chuối nên G đánh L2 thêm 01 cái làm trúng vào bụng, rồi sau đó cả nhóm đi về nhà của G, 05 cây mã tấu đưa lại cho G cất, trong lúc đánh nhau Đ1 có nhặt được 01 chiếc điện thoại Samsung A13 màn hình cảm ứng màu đen của Ngô Văn K1 rồi bỏ vô túi quần của T2, T2 đưa lại cho G cất giữ do nghĩ của đồng bọn làm rơi. Sau đó, Nguyễn Văn H, Huỳnh Sơn L2, Ngô Văn K1 được đưa đến Trung tâm y tế huyện A cấp cứu và chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh K để điều trị thương tích, đến ngày 27/11/2023 thì được xuất viện.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Phạm Duy T2, Trương Đức M, Dương Quốc Đ1, Nguyễn Văn G, Nguyễn Chí N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Ngày 28/11/2023, Huỳnh Sơn L2, Nguyễn Văn H, Ngô Văn K1 có đơn yêu cầu gửi đến Cơ quan điều tra yêu cầu xử lý hình sự đối với Phạm Duy T2, Trương Đức M, Dương Quốc Đ1, Nguyễn Văn G, Nguyễn Chí N và giám định thương tích.

Ngày 26/12/2023, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 136, 137, 138 Trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh K giám định thương tích và vật gây thương tích đối với Huỳnh Sơn L2, Nguyễn Văn H, Ngô Văn K1.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 06/KLTTCT-PY ngày 04/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K, kết luận:

  1. Các kết quả chính :
    • - Kết quả khám giám định:
    • + Sẹo phần mềm vùng (đầu) thái dương phải, vai- cánh trái, lưng trái, lưng phải (2 vết) và bàn tay trái (2 vết).
    • - Kết quả cận lâm sàng: Không thấy hình ảnh bất thường.
  2. Kết luận:
    • 2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn H tại thời điểm giám định là: 11% (Mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
    • 2.2. Vật gây thương tích: Vật có cạnh sắc.
    • 2.3. Về cơ chế hình thành thương tích:
    • - Thương tích vùng (đầu) thái dương phải do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ phải sang trái so với trục giải phẫu cơ thể.
    • - Thương tích vùng vai – cánh trái do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ trái sang phải so với trục giải phẫu cơ thể.
    • - Thương tích vùng lưng trái, lưng phải (2 vết) do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ sau ra trước so với trục giải phẫu cơ thể.
    • - Thương tích vùng bàn tay trái (2 vết) do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ trước ra sau so với trục giải phẫu cơ thể.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 15/KLTTCT-PY ngày 04/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K, kết luận:

  1. Các kết quả chính :
    • - Kết quả khám giám định:
    • + Sẹo phần mềm vùng vai trái, khuỷu – cánh tay phải và cẳng tay phải.
    • + Vết thương kẻ ngón I, II bàn tay (P), gây đứt gân cơ duỗi ngón cái đã được phẫu thuật khâu nối gân cơ.
    • - Kết quả cận lâm sàng: Không thấy hình ảnh bất thường.
  2. Kết luận:
    • 2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Sơn L2 tại thời điểm giám định là: 07% (Bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
    • 2.2. Vật gây thương tích: Vật có cạnh sắc.
    • 2.3. Về cơ chế hình thành thương tích:
    • - Thương tích vùng vai trái, khuỷu – cánh tay phải, cẳng tay phải và bàn tay phải do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ sau ra trước so với trục giải phẫu cơ thể.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 22/KLTTCT-PY ngày 08/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K, kết luận:

  1. Các kết quả chính :
    • - Kết quả khám giám định:
    • + Sẹo phần mềm vùng lưng trái, 1/3 trên cẳng tay trái.
    • + Vết thương 1/3 dưới cẳng tay trái, gãy xương trụ, đứt gân duỗi cổ tay trụ, ngón II, III, IV, V và phạm xỏ xương quay đã được phẫu thuật khâu nối gân. Hiện tại, còn hạn chế chức năng vận động cẳng tay trái, cổ tay trái mức độ ít.
    • - Kết quả cận lâm sàng: Gãy 1/3 dưới xương trụ và đứt (mẻ) vỏ xương quay trái.
  2. Kết luận:
    • 2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Văn K1 tại thời điểm giám định là: 16% (Mười sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
    • 2.2. Vật gây thương tích: Vật có cạnh sắc.
    • 2.3. Về cơ chế hình thành thương tích:
    • - Thương tích vùng lưng và 1/3 trên cẳng tay trái do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ sau ra trước so với trục giải phẫu cơ thể.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: 05 (Năm) cây dao mã tấu (loại tự chế) có chiều dài 60 đến 70 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại, có loại cán gỗ có loại cán bằng kim loại, sau khi vụ án xảy ra xong thì bị can Nguyễn Văn G cất giữ 05 cây mã tấu nêu trên, cùng 01 chiếc điện thoại Samsung A13 màn hình cảm ứng của Ngô Văn K1 ở nhà của bị can G. Ngày 09/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tiến hành truy tìm hung khí và chiếc điện thoại nêu trên thì không tìm gặp, do bị can G đi làm ăn xa nên không ở nhà thường xuyên, khi về thì 05 cây mã tấu và chiếc điện thoại không còn.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại yêu cầu bồi thường các khoản chi phí điều trị thương tích như sau: Ngô Văn K1 yêu cầu bồi thường 67.000.000 đồng; Nguyễn Văn H 38.000.000 đồng; Huỳnh Sơn L2 30.000.000 đồng, tổng cộng là 135.000.000 đồng.

Các bị can đã bồi thường cho các bị hại, với tổng số tiền là 114.000.000 đồng gồm (Phạm Duy T2 30.000.000 đồng; Dương Quốc Đ1 30.000.000 đồng; Nguyễn Chí N 27.000.000 đồng; Trương Đức M 27.000.000 đồng; Riêng bị can Nguyễn Văn G chưa khắc phục) và các bị hại đã nhận gồm: Huỳnh Sơn L2 nhận 25.000.000 đồng; Ngô Văn K1 nhận 57.000.000 đồng; Nguyễn Văn H nhận 32.000.000 đồng. Các bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị can. Ngoài ra gia đình bị can Phạm Duy T2 đã khắc phục thiệt hại cho Ngô Văn K1 chiếc điện thoại S1 bị mất là 9.000.000 đồng, ông K1 đã nhận xong.

Tại Cáo trạng số 74/CT-VKS-AM ngày 07-8-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Phạm Duy Tường, Nguyễn Chí Nguyện, Nguyễn Văn G, Dương Quốc Đ1 và Trương Đức M về tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận các bị cáo Phạm Duy T2, Nguyễn Chí N, Nguyễn Văn G, Dương Quốc Đ1 và Trương Đức M phạm tội cố ý gây thương tích và đề nghị:

  • + Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Duy T2 từ 09 đến 12 tháng tù.
  • + Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chí N từ 09 đến 12 tháng tù.
  • + Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G từ 07 đến 09 tháng tù.
  • + Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Quốc Đ1 từ 07 đến 09 tháng tù.
  • + Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Đức M từ 07 đến 09 tháng tù.
  • + Về trách nhiệm dân sự: các bị cáo đã khắc phục xong. Về vật chứng: Không thu giữ được vật chứng gì nên đề nghị không xem xét.

- Bị cáo trình bày: Các bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi vi phạm đúng như Cáo trạng đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo N trình bày: thống nhất với ý kiến của Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt đã đưa ra. Đề nghị xem xét thêm bị cáo có nhân thân tốt, chưa vi phạm pháp luật, gia đình thuộc hộ nghèo, cha là thương binh nặng cần người chăm sóc, bị cáo là lao động chính nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội:

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 20/11/2023 tại quán bida “Mở” thuộc ấp N, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang, do Q và T2 có mâu thuẫn từ việc trước đây T2 ném vỏ óc vào xe của Q nhưng không trúng nên Nguyễn Văn H hỏi T2 “Hôm trước mày chọi xe Năm C1 (là Q) phải không”, T2 không trả lời mà lên xe bỏ về, sau đó T2 rủ Nguyễn Chí N đi đến quán bida “Mở” để đánh H, N điện thoại rủ Nguyễn Văn G đi chung thì G đồng ý và rủ thêm Trương Đức M, Dương Quốc Đ1 cùng đi. Trước khi đi G đem ra 05 cây mã tấu loại dao tự chế dài khoảng 30cm đến 70cm rồi đưa cho T2, N, M, Đ1 và G mỗi người một cây mã tấu. Khi đến quán Mở thấy H đang uống bia cùng Ngô Văn K1 và Huỳnh Sơn L2 thì T2, N, G, Đ1, M cầm mã tấu nhàu vô chém loạn xạ, hậu quả làm cho H, L2 và K1 bị thương tích phải điều trị tại Bệnh viện.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 06/KLTTCT-PY ngày 04/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn H tại thời điểm giám định là: 11% (Mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 15/KLTTCT-PY ngày 04/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Sơn L2 tại thời điểm giám định là: 07% (Bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 22/KLTTCT-PY ngày 08/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Văn K1 tại thời điểm giám định là: 16% (Mười sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

[3] Về tội phạm:

[3.1] Về tội danh:

Khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đủ tuổi và đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức được việc xâm phạm đến sức khỏe người khác là trái pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý; công cụ bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại được xác định là hung khí nguy hiểm, đây là tình tiết định tội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này các bị cáo cùng nhau phạm tội, cùng nhau thực hành và gây ra thương tích cho bị hại nên là đồng phạm nhưng có tính chất giản đơn. Trong lúc đánh nhau các bị cáo dùng cây mã tấu là loại dao tự chế chém loạn xạ vào chỗ các bị hại đang ngồi, giữa các bị cáo và bị hại không xác định được ai là người dùng mã tấu chém trúng ai và chém trúng vào vị trí nào nên các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm đối với thương tích của các bị hại. Do đó, hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo Điều 134 Bộ luật Hình sự.

[3.2] Về định khung hình phạt:

Các bị cáo gây tổn hại sức khỏe cho các bị hại, trong đó anh Nguyễn Văn H tổn thương cơ thể với tỷ lệ 11%, anh Huỳnh Sơn L2 tổn thương cơ thể với tỷ lệ 7%, anh Ngô Văn K1 tổn thương cơ thể với tỷ lệ 16%; khi gây thương tích cho các bị hại các bị cáo đã dùng dao tự chế (mã tấu) sắc bén nên là hung khí nguy hiểm. Do đó, các bị cáo phải chịu tình tiết định khung “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận các bị cáo Phạm Duy T2, Nguyễn Chí N, Nguyễn Văn G, Dương Quốc Đ1 và Trương Đức M phạm tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về hình phạt:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại. Sức khỏe là vốn quý giá của con người, không ai được quyền xâm phạm một cách trái pháp luật. Hành vi của các bị cáo không chỉ gây tổn thương sức khỏe cho bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Do đó, HĐXX cần xử phạt các bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội các bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; các bị cáo Đ1, M, T2 và N có thân nhân là người có công với cách mạng. HĐXX xác định đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[4.3] Về quyết định hình phạt:

HĐXX thấy các bị cáo phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 02 đến 06 năm tù, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra. Khi quyết định hình phạt thấy rằng các bị cáo mới phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên thống nhất với đề nghị của kiểm sát viên, áp dụng điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Trong vai trò đồng phạm bị cáo T2 và N là người khởi xướng và thực hiện hành vi quyết liệt nhất, bị cáo G là người đã cung cấp hung khí nên phải chịu trách nhiệm cao hơn các bị cáo còn lại.

Người bào chữa có đề nghị cho bị cáo N được hưởng án treo. HĐXX nhận thấy các tình tiết giảm nhẹ đã được HĐXX xem xét áp dụng để xử phạt bị cáo N mức án dưới khung nên không áp dụng lại để cho hưởng án treo. Bên cạnh đó, các lý do mà người bào chữa đưa ra là căn cứ để xem xét trong giai đoạn thi hành bản án.

[5] Về trách nhiệm dân sự, bị hại anh Ngô Văn K1 yêu cầu bồi thường 67.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn H yêu cầu bồi thường 38.000.000 đồng; anh Huỳnh Sơn L2 yêu cầu bồi thường 30.000.000 đồng, tổng cộng là 135.000.000 đồng. Hiện nay các bị cáo đã bồi thường cho anh L2 28.000.000 đồng, anh K1 65.000.000 đồng, anh H 36.000.000 đồng, tổng cộng 129.000.000 đồng.

Số tiền còn lại chưa bồi thường là 6.000.000 đồng (trong đó anh L2, K1, H mỗi người 2.000.000 đồng). Tại phiên tòa bị cáo và gia đình các bị cáo đã tiếp tục khắc phục xong. Bị hại không yêu cầu các khoản nào khác nên không xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được vật chứng gì nên HĐXX không xem xét.

[7] Về án phí, các bị cáo T2, N, G, Đ1 và M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Duy T2 (CoCa), Nguyễn Chí N, Nguyễn Văn G, Dương Quốc Đ1 và Trương Đức M phạm tội Cố ý gây thương tích.

  1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Duy T2 (CoCa) 09 (chín) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024 đến ngày 11/7/2024.
  2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chí N 09 (chín) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024, đến ngày 04/5/2024.
  3. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 08 (tám) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/3/2024.
  4. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Quốc Đ1 07 (bảy) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/3/2024.
  5. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Đức M 07 (bảy) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

2- Về trách nhiệm dân sự, căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự, Các bị hại Nguyễn Văn H, Huỳnh Sơn L2, Ngô Văn K1 được nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh số tiền 6.000.000 đồng (mỗi người nhận 2.000.000 đồng) do các bị cáo đã nộp tại biên lai thu số 0004282 ngày 12/9/2024.

3- Về xử lý vật chứng: Không xem xét.

4- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Phạm Duy T2, Nguyễn Chí N, Nguyễn Văn G, Dương Quốc Đ1 và Trương Đức M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 12-9-2024). Bị hại vắng mặt nên quyền kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND X. Đông Hưng A + X. Đông Hòa, AM, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 93/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Duy T và đồng bọ phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger