TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 93/2024/HSPT Ngày 12-6-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trương Thị Anh |
| Các Thẩm phán: | Bà Lê Thu Hương |
| Bà Nguyễn Thu Hà |
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Lê Công Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2024/HSPT ngày 08/4/2024 đối với bị cáo Yên Văn S và đồng bọn, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HSST ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá.
* Bị cáo kháng cáo:
1. Yên Văn S, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1982 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Yên Văn V (đã chết) và bà Hoàng Thị K, sinh năm 1956; Có vợ là Nguyễn Thị T (đã ly hôn) Có 02 con, con lớn sinh năm 2010 và con nhỏ sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 11/8/2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”; Ngày 27/8/2010, bị Công an huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1991 tại Thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu D, Thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P (đã chết) và bà: Trịnh Thị H1, sinh năm 1960; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Có vợ và con (đã chết).
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 25/11/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Ngày 05/11/2016, bị Công an huyện Y, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe cho người khác; Ngày 30/11/2021, bị Công an huyện Y, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe cho người khác.
Bị cáo tại ngoại; Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc H:
- Luật sư Lê Thị H2- Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T.
- Luật sư Dương Đức T1
Địa chỉ: Số I N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Luật sư Vũ Thùy T2
- Là Luật sư Công ty L3, chi nhánh T6, thuộc Đoàn Luật sư T7.
Địa chỉ: Số C H, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Ngọc H: Bà Trịnh Thị H1 (Mẹ đẻ). Có mặt.
Nơi cư trú: Khu D, Thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa;
Các bị cáo Đỗ Thành M, Trịnh Viết T3, Trịnh Viết C, Phạm Tiến N, Bùi Tiến Đ, Khương Gia H3 và Trịnh Viết A không kháng cáo; không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 04/02/2023, Trịnh Viết T3, Phạm Tiến N, Trịnh Viết C, Trịnh Viết A, Bùi Tiến Đ, Khương Gia H3, Trịnh Đình L (sinh ngày 20/10/2007), Trịnh Viết V1 (sinh ngày 09/10/2005) và Nguyễn Văn L1 (sinh năm 2003), cùng trú tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa và một số người khác đi liên hoan và hát Karaoke tại nhà hàng N1 ở Thị trấn Q, huyện Y. Khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, cả nhóm rủ nhau về cống nước trên đường bê tông thôn L, xã Đ, huyện Y để ngồi chơi, nói chuyện. Khi đi đến đường T, xã Đ, huyện Y thì gặp Nguyễn Văn T4, sinh năm 1993, ở thôn Y, xã Đ, huyện Y đi xe máy ngược chiều có biểu hiện lạng lách, bật đèn chiếu xa rọi vào nhóm của T3 thì bị một số người trong nhóm của T3 đuổi theo. Lúc này, T4 đi xe về hướng nhà Yên Văn S thì gặp S, Đỗ Thành M và Nguyễn Ngọc H đang ở cổng nhà S, T4 nói với mọi người bị lùa đánh (trước đó T4 cùng S, H cũng đã liên hoan uống rượu và hát Karaoke tại nhà S). Lúc này, H3, T3, N và Trịnh Đình L cũng đi xe đến trước cổng nhà S. T4 đi lại định dùng tay tát H3 thì M đi lại can kéo T4 ra và dùng tay định tát T4 thì T4 không đánh H3 nữa mà đi về nhà. Lúc này, T3 đứng với S và nói “Sao lại đánh em của em?” thì bị S chửi lại. Sau đó, T3 dùng chân đạp vào S một cái rồi bỏ chạy thì S và Hoàng lùa theo. Khi đó, H cầm mũ bảo hiểm lùa theo T3 nhưng không được thì quay lại, gặp Trịnh Đình L đang đi ra, H giữ Trịnh Đình L lại và dùng mũ bảo hiểm (loại mũ bảo hiểm thời trang) đập vào đầu Trịnh Đình L, hai bên giằng co nhau. Sau đó, S cũng chạy đến và xô xát với Trịnh Đình L thì L bỏ chạy về phía Công ty M1 của gia đình anh Trịnh Đình S1, sinh năm 1995, ở thôn T, xã Đ, huyện Y. Khi bị S1 lùa theo thì Trịnh Đình L lấy một điếu cày bằng nứa dựng ở góc tường đập vào người S1. Sau khi H đánh Trịnh Đình L thì tiếp tục đi về phía nhà của S1 gặp H3 và N đi ra, H cầm mũ bảo hiểm đánh N nên N lên xe bỏ chạy, H3 bỏ chạy bộ về phía ngã 3 gần quán T8 thuộc Thôn T, xã Đ, huyện Y. Khi S1 bị Trịnh Đình L dùng điếu cày đánh thì S1 quay lại nhà lấy một con dao rựa đi ra tìm nhưng Trịnh Đình L đã bỏ chạy nên S1 về nhà lấy xe máy và cầm dao đi tìm nhóm của L để đánh. Lúc này, H cũng về nhà S1 lấy xe thì gặp M. Do lúc trước khi hát K1, S1 đã tặng cho M con dao (loại dao mèo) và M đã cất vào cốp xe mô tô của H nên M đi lại cốp xe mô tô của H lấy dao cầm đi bộ ra khu vực Công ty M1, H cũng điều khiển xe đi theo M. Khi gặp H thì M ngồi lên xe mô tô. Lúc này, H dùng tay với lấy dao của M đang cầm nhưng M không đưa, sau đó H chở M đi vòng quanh khu dân cư và trên đường G làng thôn T, xã Đ tìm nhóm của L nhưng không thấy nên đi lại khu vực ngã ba Công ty may. Sau đó, H tiếp tục đi xe chở M đi về phía trạm bơm nước thôn T, xã Đ, khi đi gần đến trạm bơm thì H và M gặp T3 điều khiển xe mô tô chở N và C; A điều khiển xe chở Đ đi ngược chiều thì H đi chậm lại. M xuống xe giơ dao quát “đứng lại!” thì T3, N bỏ chạy, H tiếp tục điều khiển xe chở M đuổi theo. Khi đến Công ty M1 thì gặp S1, cùng lúc này Nguyễn Văn L1, sinh ngày 26/4/2003, ở thôn L, xã Đ, huyện Y cũng điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36C2-05603 chở theo Trịnh Viết V1, sinh ngày 09/10/2005 ở cùng thôn đi đến thì bị S1 cầm dao ra bắt dừng lại, xuống xe, quỳ xuống đường và dọa chém, M cũng cầm dao đi lại đe dọa Nguyễn Văn L1. S1 cầm dao đe dọa chém V1 nên V1 bỏ chạy, M cầm dao bắt Nguyễn Văn L1 ngồi lên xe của Nguyễn Văn L1 và chở đi tìm nhóm bạn của L1. Sau khi V1 bỏ chạy, S1 quay lại dọa chém Nguyễn Văn L1 thì H can ngăn nên S1 chém vào mặt đồng hồ xe mô tô của Nguyễn Văn L1 thì L1 điều khiển xe chạy về hướng ngã 3 quán T8, S1 cũng điều khiển xe mô tô và cầm dao đi về hướng ngã ba. Lúc trước, khi T3, N, C, A, Đ bỏ chạy cũng dừng lại ở khu vực ngã ba phía dưới quán T8 thì gặp H3 và Trịnh Đình L đi đến. Sau khi bị S1 và M đe dọa, V1 và Nguyễn Văn L1 chạy đến khu vực ngã ba nói có người cầm dao thì T3, N, A, Đ, H3, C, Trịnh Đình L chạy lại trước quán T9 H lấy vỏ chai bia ở các két bia để trước quán. Thấy S1 đi xe mô tô ra chỗ ngã ba giữa làng thì cả nhóm cầm vỏ chai bia ném về phía S1, làm S1 bỏ xe ở đường rồi chạy về nhà. Nghe ồn ào nên M cầm dao đi bộ ra hướng ngã ba, H cũng lấy xe mô tô đi theo rồi chở M thì bị T3, N, A, Đ, H3, C và Trịnh Đình L ném vỏ chai bia trúng vào người, mặt làm H bị thương. Ngoài ra, còn ném vỏ chai bia làm nứt vỡ cánh yếm bên phải xe mô tô biển kiểm soát 36B2-637.14 của S1. H được M đưa đi bệnh viện cấp cứu, nhóm của L đi về nhà.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Nguyễn Ngọc H vào hồi 02 giờ 30 phút ngày 05/02/2023, có các thương tích sau: 01 vết rách da ở môi trên kích thước 05x0,5cm xuyên thấu vào trong khoang miệng; gãy 02 răng cửa hàm trên và 01 răng cửa hàm dưới. Ngày 20/02/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 75/QĐ-CSĐT trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh T giám định tỉ lệ phần trăm tổn hại cơ thể do thương tích gây ra đối với Nguyễn Ngọc H. Ngày 17/03/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T bản kết luận giám định số 332/2023/TgT kết luận: “Tại thời điểm giám định pháp y về thương tích: Tổng tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Nguyễn Ngọc H là 09%”.
Đối với thương tích của Yên Văn S do thương tích nhẹ, S không đi bệnh viện điều trị, không có yêu cầu đề nghị gì về thương tích.
Ngày 22/02/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra các yêu cầu định giá số 08, 09, 10/YC-CSĐT trưng cầu Hội đồng định giá tài sản huyện Y định giá các tài sản bị hư hỏng gồm: Mặt đồng hồ xe mô tô biển kiểm soát 36C2-056.03, phần phía trên cánh yếm nhựa bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 36B2-637.14 và 36 vỏ chai bia bằng thủy tinh. Ngày 06/3/2023, Hội đồng định giá tài sản huyện Y có các bản kết luận định giá số 08, 09, 10/KL-HĐĐGTS kết luận các giá trị tài sản bị thiệt hại là:
- Giá trị phần bị hư hỏng của mặt đồng hồ xe mô tô biển kiểm soát 36C2-056.03 là 105.000đ;
- Giá trị 36 vỏ chai bia bằng thủy tinh, nhãn hiệu bia “Thanh Hoa”, dung tích 450ml là 36.000đ;
- Giá trị phần hư hỏng phần phía trên cánh yếm nhựa bên phải xe mô tô biển kiểm soát 36B2-637.14 là 75.000đ.
Qúa trình điều tra, Nguyễn Ngọc H khai báo và giao nộp tài liệu thể hiện H có dấu hiệu bị bệnh tâm thần và đã từng điều trị tại Bệnh viện T10. Ngày 25/07/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định trưng cầu giám định số 203/QĐ-CSĐT trưng cầu Phân viện pháp y tâm thần Bắc Miền Trung giám định pháp y tâm thần đối với Nguyễn Ngọc H. Ngày 03/10/2023, Phân viện pháp y tâm thần Bắc Miền T5 ra bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 34/KLGĐ kết luận:
- Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng (ngày 04/02/2023) và tại thời điểm giám định, Nguyễn Ngọc H bị bệnh: Rối loạn hỗn hợp lo âu trầm cảm, theo phân loại Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10), có mã bệnh là F41.2 (bệnh đang trong giai đoạn tiến triển).
- Tại tất cả các thời điểm đã nêu trên, Nguyễn Ngọc H hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
Qúa trình điều tra, Đỗ Thành M, Nguyễn Ngọc H, Yên Văn S, Trịnh Viết T3, Bùi Tiến Đ, Phạm Tiến N, Trịnh Viết C, Trịnh Viết A và Khương Gia H3 đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân và đồng phạm. Lời khai phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người liên quan và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng vụ án gồm: Qúa trình xác định hiện trường, Công an xã Đ, huyện Y đã thu giữ 01 vỏ chai bia màu nâu đỏ nhãn hiệu THANH HOA, 04 cổ chai bia bị vỡ, 06 mảnh vỡ của vỏ chai bia cùng nhãn hiệu.
Yên Văn S đã tự nguyện giao nộp 01 điếu cày bằng nứa, kích thước (65x4,5)cm; 01 con dao, loại dao dựa dài 46,5cm cán dao bằng gỗ dài 14 cm, lưỡi dao dài 32,5cm, nơi rộng nhất 06cm.
Cũng trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 36C2-056.03 của Nguyễn Văn L1 và xe mô tô biển kiểm soát 36B2-637.14 của Yên Văn S. Sau khi tra cứu, xác định không phải là vật chứng của vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Yên Văn S và Nguyễn Văn L1.
Đối với 01 con dao do Đỗ Thành M sử dụng để đe dọa Nguyễn Văn L1 và 01 mũ bảo hiểm Nguyễn Ngọc H sử dụng để đập vào đầu Trịnh Đình L. Sau khi sự việc xảy ra, các bị can đã vứt bỏ ở cổng bệnh viện Đ1, huyện Y và ở thôn T, xã Đ, huyện Y. Cơ quan cảnh sát điều tra đã truy tìm nhưng không có kết quả.
Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra, Nguyễn Ngọc H và người đại diện yêu cầu những người gây thương tích cho H phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tinh thần và chi phí điều trị thương tích với tổng số tiền là 100.000.000đ. Đại diện gia đình Trịnh Viết T3, Phạm Tiến N, Trịnh Viết C, Bùi Tiến Đ, Khương Gia H3, Trịnh Viết A đã tự nguyện bồi thường mỗi gia đình 10.000.000đ nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định để khắc phục hậu quả cho Nguyễn Ngọc H. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, đại diện gia đình các bị cáo và người liên quan anh Trịnh Đình L đã thống nhất thỏa thuận bồi thường đầy đủ cho Nguyễn Ngọc H và không có yêu cầu gì đối với những người đã gây thương tích cho H.
Yên Văn S đã tự nguyện bồi thường thiệt hại đối với phần hư hỏng của chiếc xe mô tô BKS 36C2-056.03 cho anh Nguyễn Văn L1 và L1 không yêu cầu gì thêm; Đồng thời, S không yêu cầu bồi thường thiệt hại về phần hư hỏng của xe mô tô BKS 36B2-637.14. Ông Trịnh Văn H4 không yêu cầu ai phải bồi thường thiệt hại đối với 36 vỏ chai bia nhãn hiệu THANH HOA.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HSST ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Thành M, Yên Văn S, Nguyễn Ngọc H, Trịnh Viết T3, Trịnh Viết C, Phạm Tiến N, Bùi Tiến Đ, Khương Gia H3 và Trịnh Viết A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng: Điểm b, e Khoản 2 Điều 318, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thành M 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/7/2023.
Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Yên Văn S 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318, Điểm q, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc H 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Viết T3 17 (mười bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/7/2023.
Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Viết C 24 (hai mươi tư) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Tiến N 24 (hai mươi tư) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38, Điều 91, Điều 101, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Tiến Đ 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Khương Gia H3 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Viết A 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Án sơ thẩm còn quyết định về tang vật trong vụ án, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của các bị cáo.
* Sau khi xét xử, bị cáo Yên Văn S và Nguyễn Ngọc H làm đơn kháng cáo bản án với nội dung: Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo công nhận hành vi phạm tội như quyết định của cấp sơ thẩm đối với các bị cáo là đúng và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc H cho rằng cấp sơ thẩm đánh giá vai trò của các bị cáo chưa chính xác, bản thân bị cáo H đã có hành vi ngăn cản S và M nhằm chấm dứt sự việc nên chỉ có vai trò không đáng kể; Đối với một số bị cáo khác trong vụ án được áp dụng tình tiết giảm nhẹ không đúng dẫn đến việc bị cáo H phải chịu mức án cao hơn các bị cáo này.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng kháng của bị cáo H, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Yên Văn S và Nguyễn Ngọc H.
Giảm cho bị cáo Yên Văn S từ 01 tháng đến 03 tháng tù.
Giảm cho bị cáo Nguyễn Ngọc H từ 01 tháng đến 03 tháng tù.
Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Ngọc H từ chối người bào chữa là Luật sư Lê Thị H2. Do đó Luật sư Lê Thị H2 tôn trọng quyết định của bị cáo, luật sư không tham gia bào chữa cho bị cáo nữa.
Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo nộp trong thời hạn luật định, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
- Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào khoảng 23 giờ 40 phút ngày 04/02/2023, tại đường L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa có hai nhóm thanh niên xô xát, lùa đuổi đánh nhau. Cụ thể: Nhóm của các bị cáo Đỗ Thành M, Yên Văn S cầm dao đe dọa chém vào người, chém làm hư hỏng mặt đồng hồ xe mô tô của anh Nguyễn Văn L1 trị giá thiệt hại là 105.000đ; Nguyễn Ngọc H cãi nhau với nhóm thanh niên của Trịnh Viết T3, dùng mũ bảo hiểm lùa đuổi T3 và đập vào đầu Trịnh Đình L, giằng co với L, H cũng dùng xe chở Đỗ Thành M cầm dao đi tìm nhóm của T3 để đánh nhau. Còn nhóm của các bị cáo Trịnh Viết T3, Trịnh Viết C, Phạm Tiến N, Bùi Tiến Đ, Khương Gia H3, Trịnh Viết A và anh Trịnh Đình L dùng vỏ chai bia ném về phía nhóm của Yên Văn S làm hư hỏng phần cánh yếm bên phải xe mô tô của S trị giá thiệt hại là 75.000đ, hư hỏng 36 vỏ chai bia nhãn hiệu THANH HOA của ông Trịnh Văn H4 trị giá 36.000đ và gây thương tích cho Nguyễn Ngọc H là 9%.
Với hành vi trên, cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người đúng tội. Các bị cáo chỉ kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giảm hình phạt và cho hưởng án treo để được cải tạo tại địa phương.
- Xét kháng cáo của bị cáo S và H: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo gồm: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Ngọc H khi phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển điều khiển hành vi của mình nên được xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo S đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra nên được xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Yên Văn S có mẹ là người có công với cách mạng, bị cáo được UBND xã Đ, huyện Y tặng Giấy khen về việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ an ninh quốc phòng, bản thân bị cáo là người khuyết tật dạng vận động.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Ngọc H xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới đó là bị cáo có tham gia đóng góp xây dựng quê hương, được Ủy ban MTTQ xã Đ, huyện Y gửi thư cảm ơn. Bị cáo Yên Văn S tham gia hiến máu nhân đạo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành người tốt, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tai phiên toà là có căn cứ. Do các bị cáo có nhân thân xấu nên không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo.
[3] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Yên Văn S và Nguyễn Ngọc H;
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HSST ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá.
[2] Tuyên bố các bị cáo Yên Văn S và Nguyễn Ngọc H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Yên Văn S.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Nguyễn Ngọc H.
Xử phạt: Bị cáo Yên Văn S 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
[4] Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Yên Văn S và Nguyễn Ngọc H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.
Nơi gửi:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Trương Thị A1 |
Bản án số 93/2024/HSPT ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 93/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội Gây rối trật tự công cộng, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
