Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/HS-ST

Ngày 11 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Ngô Thị Ngọc Cúc
  2. Ông Võ Thanh Tân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2024/HSST ngày 24 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Thanh H, tên gọi khác: L; sinh ngày 01 tháng 7 năm 2003; nơi sinh: thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; Con của ông Lê Tấn P, sinh năm 1982 và bà Lê Thị Thủy T, sinh năm 1987; Bị cáo có 02 anh em, bị cáo là người lớn nhất; Bị cáo chưa có vợ con.

Quá trình nhân thân: Ngày 20 tháng 5 năm 2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào Trường G, thời hạn 20 tháng, chấp hành xong ngày 04 tháng 02 năm 2022. Ngày 20 tháng 9 năm 2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 14 tháng (đang chấp hành).

Tiền án: Không có.

2

Tiền sự: Ngày 20 tháng 4 năm 2022, bị Ủy ban nhân dân phường M quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chưa nộp phạt.

Bị cáo đang chấp hành biện pháp hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  • - Ông Phạm Tấn Đ, sinh năm 1961; (vắng mặt)
  • Hộ khẩu thường trú: Số F, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang;
  • Nơi ở hiện nay: Quán C, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • - Bà Trần Thị Tuyết H1, sinh năm 1986; (vắng mặt)
  • Hộ khẩu thường trú: Số A, khóm A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang;
  • Nơi ở hiện nay: Tổ D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Võ Phước T1, sinh năm 1984; (vắng mặt)
  • Cư trú: Số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • - Bà Trần Thị L1, sinh năm 1978; (vắng mặt)
  • Hộ khẩu thường trú: Số B khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • Nơi ở hiện nay: Số D khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 10 phút ngày 18 tháng 10 năm 2022, H đi bộ đến khu vực khóm T, phường M, thành phố L. Khi đến quán C của ông Phạm Tấn Đ, H thấy quán đóng cửa, tắt đèn, không người trông coi, nên nảy sinh ý định vào quán tìm tài sản lấy trộm. Thực hiện ý định, H leo qua hàng rào vào trong quán lấy trộm 12 chai nước giải khác (02 chai nước ép Troicana Twister, 01 chai Trà Xanh Không Độ, 02 chai Revive C, 01 chai Wake Cup 247 vị cà phê, 01 chai trà Ô Long Tea Plus, 05 chai còn lại không xác định nhãn hiệu) rồi mang đến chợ C1 bán cho Võ Phước T1 07 chai được 22.000 đồng, còn lại 05 chai H uống, số tiền bán nước giải khát H sử dụng tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, Công an phường M mời H về làm việc, H đầu thú thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình. Do chưa định giá được tài sản, nên Công an cho gia đình bảo lãnh về nhà.

Đến khoảng 06 giờ ngày 24 tháng 10 năm 2022, H đi bộ đến khu vực Tổ D, khóm T, phường M, thành phố L, H thấy quán cà phê Hoàng K của bà Trần Thị Tuyết H1 đóng cửa, tắt đèn, không có người trông coi, nên H leo qua hàng rào vào trong quán lấy trộm 30 chai nước giải khát (12 chai trà Dr Thanh, 06 lon Redbull,

3

05 chai trà Ô Long, 01 chai trà Xanh Không Độ, 02 chai N, 04 chai Sting) mang bán cho nhiều khách đi đường, được 150.000 đồng, H tiêu xài cá nhân hết 60.000 đồng. Công an phường M mời làm việc, H thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình và tự nguyện giao nộp 90.000 đồng.

Vật chứng và tài sản thu giữ: 02 chai nước ép Troicana Twister, 01 chai Trà Xanh Không Độ, 02 chai Revive C, 01 chai Wake Cup 247 vị cà phê, 01 chai trà Ô Long Tea Plus (do ông Võ Phước T1 giao nộp, đã trao trả cho ông Phạm Tấn Đ). Số tiền 90.000 đồng do H giao nộp.

Kết luận giám định số 34/KL-HĐĐGTS ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận tổng giá trị của 02 chai nước ép Troicana Twister, 01 chai trà Xanh Không Độ, 02 chai Revive Chanh Muối, 01 chai Wake Cup 247 vị cà phê, 01 chai trà Ô Long Tea Plus là 56.000 đồng.

Kết luận giám định số 364/KL-HĐĐGTS ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận tổng giá trị của 12 chai trà Dr Thanh, 06 lon Redbull, 05 chai trà Ô Long, 01 chai T Không Độ, 02 chai Number One, 04 chai Sting là 220.000 đồng.

Phạm Tấn Đ trình bày: Trong 12 chai nước bị mất trộm, Đ chỉ xác định được nhãn hiệu của 07 chai nước mà Cơ quan điều tra thu hồi. Đ không yêu cầu bồi thường thiệt hại, yêu cầu xử lý hình sự đối với H.

Trần Thị Tuyết H1 trình bày: Hằng không yêu cầu bồi thường thiệt hại, yêu cầu xử lý hình sự đối với H.

Võ Phước T1 trình bày: Khi mua 07 chai nước giải khát thì T1 không biết tài sản do H phạm tội mà có. T1 đã giao nộp 07 chai nước cho Cơ quan điều tra, không yêu cầu H trả lại 22.000 đồng.

Cáo trạng số 87/CT-VKSLX-HS, ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (viết tắt là Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát sửa đổi rút một phần nội dung Cáo trạng đối với tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
  • - Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố.
  • - Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên ý kiến rút một

4

phần nội dung truy tố về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự như đã trình bày khi công bố Cáo trạng, đề nghị:

  • - Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt bị cáo Lê Thanh H từ 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo phạm tội mà có, thu lợi bất chính là 112.000 đồng.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ xử phạt, bị cáo đã ăn năn hối cải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tòa án đã triệu tập hợp lệ, nhưng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt. Thấy rằng, quá trình điều tra, truy tố họ đã cung cấp lời khai. Do đó, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại các Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1.2] Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Mặc dù đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, chưa được xóa tiền sự, nhưng vào ngày 18 tháng 10 năm 2022, Lê Thanh H lại tiếp tục lén lút lấy trộm tài sản của ông Phạm Tấn Đ, bị phát hiện và đang chờ xử lý. Trong thời gian này, Lê Thanh H lại tiếp tục lén lút lấy trộm tài sản của Trần Thị Tuyết H1 vào ngày 24 tháng 10 năm 2022. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Thanh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên.

5

[3] Về hình phạt đối với bị cáo:

[3.1] Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Đã có thời gian được cải tạo, giáo dục tại trường G, đã bị xử phạt hành chính, nên nhận thức được thế nào là hành vi vi phạm pháp luật. Bị cáo cần phải chăm chỉ lao động, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn nhanh chóng có tiền để tiêu xài mà không phải tốn nhiều công sức lao động hợp pháp, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[3.2.1] Xét thấy, hai lần phạm tội của bị cáo đều có giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng. Quá trình điều tra, truy tố bị hại nhận được tài sản là do người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giao nộp, bị cáo không thực hiện bồi thường cho bị hại. Do đó, việc đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa rút một phần Cáo trạng, không áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” và tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” là phù hợp.

[3.2.2] Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi đã thực hiện, bản thân bị cáo đã đầu thú khai nhận thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.3] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Số tiền vật chứng thu giữ là tiền bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có, thu lợi bất chính từ việc phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Đối với Võ Phước T1 mua 07 chai nước giải khát của H bán, không biết 07 chai nước này do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự T1 về hành viên “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ. Phạm Tấn Đ không xác định được nhãn hiệu 05 chai nước, không đủ thông tin để định giá tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H đối với hành vi lấy trộm 05 chai nước giải khát không xác định nhãn hiệu là có căn cứ.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

6

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  2. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H (tên gọi khác: L) phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

    Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh H (tên gọi khác: L) 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  3. Về xử lý vật chứng:
  4. Căn cứ vào các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 112.000 đồng (một trăm mười hai nghìn đồng).

    (Theo Ủy nhiệm chi số 21 ngày 11 tháng 6 năm 2024, đơn vị trả tiền Công an thành phố L, đơn vị nhận tiền Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên)

  5. Về án phí:
  6. Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

    Buộc bị cáo Lê Thanh H (tên gọi khác: L) phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND tp. Long Xuyên (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà tạm giữ Công an tp. Long Xuyên (1);
  • - CQTHAHS Công an tp. Long Xuyên (1);
  • - CQĐT Công an tp. Long Xuyên (1);
  • - Chi cục THADS tp. Long Xuyên (1);
  • - Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy t. An Giang (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (2);
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (2);
  • - Bộ phận THA Tòa án (2);
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thùy Giang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thanh Tân Ngô Thị Ngọc Cúc Nguyễn Thùy Giang
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 93/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger