|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 93/2024/HSST
Ngày 11/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hồng Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Công Nhân;
2. Bà Tống Thị Kim Điền;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tấn Sang - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Trần Duy An - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2024/HSST ngày 21 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Hữu T, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 124/83/6 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Phan Văn Đ (đã chết) và bà Dương Thị B; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Bản án số 197/2017/HSST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Phan Hữu T 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/7/2022; Tiền sự: Không; Nhân thân: (1) Bản án số 21/2008/HSST ngày 10/01/2008 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 29/5/2008; (2) Bản án số 57/2010/HSST ngày 07/6/2010 của Tòa án nhân dân Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 10/12/2010; (3) Bản án số 249/2013/HSST ngày 10/9/2013 của Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 29/5/2016. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/02/2024. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Ông Đào Văn H, sinh năm 1992; Địa chỉ: Số C P, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 19/02/2024, bị cáo Phan Hữu T điều khiển xe máy, biển số 59S3-697.87 đến cửa hàng điện thoại, địa chỉ C P Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh do anh Đào Văn H làm chủ. T giả vờ hỏi mua phụ kiện điện thoại, lợi dụng anh H đang bán điện thoại cho khách, T lén lút lấy trộm một điện thoại di động hiệu ZTE BLADE A52 trong tủ rồi tẩu thoát. T mang điện thoại trộm cắp được đem bán cho một nam thanh niên (chưa rõ nhân thân lai lịch) tại vỉa hè trước Thảo cầm viên với giá 700.000 đồng. Số tiền trên đã được T sử dụng hết vào mục đích cá nhân đến. Đến 20 giờ ngày 24/02/2024, T tiếp tục đến cửa hàng điện thoại, địa chỉ B H phường T, Quận G, do anh Đào Huy Thọ làm chủ. Anh T1 phát hiện nghi vấn nên báo cho anh H đến tiệm cùng giữ T lại. Anh Đào Văn H đã đến Cơ quan công an trình báo, giao đối tượng T cho cơ quan công an xử lý. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Phan Hữu T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
Theo kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTTHS ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận G, kết luận: một điện thoại di động hiệu ZTE BLADE A52, màu vàng, đã qua sử dụng có giá trị 1.400.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
Thu giữ của bị cáo Phan Hữu T: 01 xe máy Honda Vision màu đỏ mang biển số 59L2-725.65, số khung RLHJK0314NY575150, số máy JKOSE-2579488 do Phan Hữu T đứng tên sở hữu.
Bản cáo trạng số 75/CT-VKSQ7 ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phan Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phan Hữu T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là ông Đào Văn H không có yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xét.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì. Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án đã được tóm tắt như trên, đã thể hiện sự ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ, xét đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 19/02/2024, bị cáo Phan Hữu T đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Đào Văn H tại cửa hàng điện thoại của anh H địa chỉ số C P, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Tài sản bị trộm cắp là một chiếc điện thoại di động hiệu ZTE BLADE A52. Căn cứ kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTTHS ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận G, kết luận: “một điện thoại di động hiệu ZTE BLADE A52, màu vàng, đã qua sử dụng có giá trị 1.400.000 đồng”.
Bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản với giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng chưa được xóa án tích về hành vi Cướp giật tài sản theo Bản án số 197/2017/HSST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố là đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an. Bị cáo là người có đủ sức khỏe để lao động kiếm sống, bị cáo biết rõ tài sản đang thuộc sở hữu của người khác, nhưng do lười lao động mà lại muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài cho bản thân nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở về cách quản lý tài sản của chủ sở hữu để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo là người có nhân thân xấu, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung trong xã hội
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan Hữu T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 (một) xe máy Honda Vision màu đỏ mang biển số 59L2-725.65, số khung RLHJK0314NY575150, số máy JKOSE-2579488 (đã qua sử dụng). Xác minh chủ sở hữu phương tiện giao thông là bị cáo Phan Hữu T. Đây là phương tiện bị cáo T sử dụng đi trộm cắp tài sản nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Đào Văn H không yêu cầu bồi thường. Tại phiên tòa hôm nay có đơn xét xử vắng mặt nên không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Phan Hữu T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/02/2024.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ, biển số 59L2-725.65, số khung RLHJK0314NY575150, số máy JKOSE-2579488 thu giữ của bị cáo Phan Hữu T; (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 111 ngày 05/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Phan Hữu T phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Phan Hữu T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đoàn Hồng Phúc |
Bản án số 93/2024/HSST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 93/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
