Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/DSST

Ngày: 09/7/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Chánh.
  2. Bà Thiều Thị Phi Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1210/2023/TLST - DS ngày 29 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QÐST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 855/2024/QÐST-DS ngày 19/6/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Trần Châu P, sinh năm 1987.
  • Địa chỉ: D, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • Đại diện theo ủy quyền: Bà Triệu Thị T, sinh năm 1996.
  • Địa chỉ liên hệ: Số B, tổ B, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • - Bị đơn: Bà Đỗ Thị Thanh N, sinh năm 1987.
  • HKTT: Số B, N, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.
  • Địa chỉ liên lạc: D33, KDC số B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Khắc B, sinh năm 1982.
  • HKTT: Số B, N, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.
  • Địa chỉ liên lạc: D33, KDC số B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà T có đơn xin giải quyết vắng mặt, bà N, ông B vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Trần Châu P là bà Triệu Thị T trình bày:

Ông Trần Châu P và bà Đỗ Thị Thanh N có mối quan hệ quen biết, vào giữa năm 2019 đến cuối năm 2020, bà N có nhiều lần hỏi vay tiền của ông P để làm ăn, và ông P đồng ý cho bà N vay tiền. Theo đó, từ giữa năm 2019 đến cuối năm 2020, ông P đã nhiều lần cho bà N vay tiền, với tổng số tiền gốc ông P đã cho bà N vay là: 476.400.000 đồng (bốn trăm bảy mươi sáu triệu bốn trăm ngàn đồng). Đến ngày 12/12/2020, bà N viết cho ông P Giấy mượn tiền, với nội dung bà N cùng chồng là ông Trần Khắc B có mượn của ông Trần Châu P số tiền tính tới ngày 31/12/2020 là 476.400.000 đồng. Bà N cam kết tới hạn 01/1/2021 sẽ hoàn trả đủ số tiền trên cho ông P. Về lãi suất, trong Giấy mượn tiền nêu trên không ghi nhận nhưng thực tế ông P và bà N thoả thuận miệng với nhau lãi suất vay là 2%/tháng. Trả tiền lãi hàng tháng vào ngày mùng 01 dương lịch mỗi tháng.

Tuy nhiên, đến hạn trả nợ gốc thì bà N không chịu trả tiền cho ông P. Trong thời hạn vay tiền bà N cũng không trả tiền lãi cho ông P. Mặc dù ông P đã rất nhiều lần liên hệ yêu cầu bà N trả tiền gốc và tiền lãi cho ông P, nhưng bà N chỉ hứa hẹn và luôn trốn tránh không chịu thực hiện. Đến nay bà N chưa trả cho ông P bất kỳ số tiền nào kể cả tiền gốc và tiền lãi. Việc này đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông P.

Vì vậy, ông P đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tuyên: Buộc bà Đỗ Thị Thanh N thanh toán cho ông Trần Châu P các khoản tiền sau:

  • Tiền vay nợ gốc là 476.400.000 đồng (bốn trăm bảy mươi sáu triệu bốn trăm ngàn đồng);
  • Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả, tính từ ngày 02/01/2021 đến ngày Toà án đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, tạm tính đến ngày làm đơn khởi kiện là ngày 20/12/2023, cụ thể là: 476.400.000₫ x 150% x 1,67%/tháng x 35 tháng = 417.683.700 đồng (bốn trăm mười bảy triệu sáu trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm đồng).

Tổng số tiền ông P yêu cầu bà N thanh toán là: 476.400.000 đồng + 417.683.700 đồng = 894.083.700 đồng (tám trăm chín mươi tư triệu không trăm tám mươi ba ngàn bảy trăm đồng).

Ngày 08/7/2024, phía nguyên đơn có đơn đề nghị thay đổi, xác định lại yêu cầu khởi kiện, cụ thể xác định việc vay mượn tiền giữa ông P và bà N là hợp đồng vay có thời hạn, không thoả thuận lãi suất. Vì vậy, thay đổi yêu cầu khởi kiện về lãi suất, cụ thể yêu cầu Toà án buộc bà Đỗ Thị Thanh N thanh toán cho ông P tiền lãi trên nợ gốc quá hạn trong những ngày chưa trả với mức lãi suất 10%/năm.

Đồng thời nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Đỗ Thị Thanh N phải thanh toán cho ông P cụ thể các khoản tiền sau:

  • Tiền vay nợ gốc là 476.400.000 đồng (bốn trăm bảy mươi sáu triệu bốn trăm ngàn đồng).
  • Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả, tính từ ngày 02/01/2021 đến ngày Toà án đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm là ngày 09/7/2024 (42 tháng 7 ngày), cụ thể:

476.400.000₫ x 10%/năm x 42 tháng 7 ngày = 167.666.333 đồng (một trăm sáu mươi bảy triệu, sáu trăm sáu mươi sáu ngàn, ba trăm ba mươi ba đồng).

Tổng số tiền ông P yêu cầu bà N thanh toán là: 476.400.000 đồng+ 167.666.333 đồng = 644.066.333 đồng (sáu trăm bốn mươi bốn triệu, không trăm sáu mươi ngàn ba trăm ba mươi ba đồng).

* Bị đơn bà Đỗ Thị Thanh N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Khắc B đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không có ý kiến, không đến Toà án để tham gia tố tụng.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên toà:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng các quy định pháp luật.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Đỗ Thị Thanh N phải thanh toán cho ông Trần Châu P số tiền nợ gốc 476.400.000 đồng và tiền lãi theo quy định. Về án phí, bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành xác minh tình trạng cư trú của bà Đỗ Thị Thanh N, ông Trần Khắc B tại địa chỉ: B đường N, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh và địa chỉ D33, khu dân cư S, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ vào kết quả xác minh ngày 18/01/2024 của Công an phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh và kết quả xác minh ngày 05/3/2024 của Công an phường L, thành phố B cung cấp thể hiện: Bà Đỗ Thị Thanh N, ông Trần Khắc B có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số B, N, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay bà N, ông B không còn sinh sống tại địa chỉ B, N, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh và cũng không sinh sống tại địa chỉ D, KDC số B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, đi đâu địa phương không nắm rõ do không trình báo với địa phương.

Toà án đã yêu cầu ông P cung cấp địa chỉ liên lạc hiện nay của bà N, ông B nhưng ông P không biết để cung cấp cho Toà án. Đồng thời ông P xác định yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà là Toà án nơi bà N cư trú cuối cùng giải quyết vụ án và đề nghị Toà án tiến hành thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng theo Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Như vậy, bà N thay đổi địa chỉ ghi trong Giấy mượn tiền nhưng không thông báo cho ông P biết về nơi cư trú mới. Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì trường hợp này được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án giải quyết theo thủ tục chung.

[1.2] Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà.

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định ông P là nguyên đơn, bà N là bị đơn, ông B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Nguyên đơn ông P có văn bản uỷ quyền cho bà Triệu Thị T tham gia tố tụng là đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.

[1.3] Tòa án đã làm thủ tục tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho bà N, ông B theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; triệu tập hợp lệ đến phiên tòa 02 lần nhưng bà N, ông B vẫn vắng mặt không có lý do. Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sựToà án tiến hành xét xử vắng mặt bà N, ông B, bà T.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Châu P:

[2.1] Theo ông Phúc trình b: Ông Trần Châu P và bà Đỗ Thị Thanh N có mối quan hệ quen biết, vào giữa năm 2019 đến cuối năm 2020, bà N có nhiều lần hỏi vay tiền của ông P để làm ăn, và ông P đồng ý cho bà N vay tiền. Theo đó từ giữa năm 2019 đến cuối năm 2020, ông P đã nhiều lần cho bà N vay tiền, với tổng số tiền gốc ông P đã cho bà N vay là: 476.400.000 đồng (bốn trăm bảy mươi sáu triệu bốn trăm ngàn đồng). Đến ngày 12/12/2020, bà N viết cho ông P Giấy mượn tiền, với nội dung bà N cùng chồng là ông Trần Khắc B có mượn của ông Trần Châu P số tiền tính tới ngày 31/12/2020 là 476.400.000 đồng (bốn trăm bảy mươi sáu triệu bốn trăm ngàn đồng). Bà N cam kết tới hạn 01/01/2021 sẽ hoàn trả đủ số tiền trên cho ông P. Về lãi suất, nguyên đơn xác định lại khi lập giấy mượn tiền các bên không thoả thuận lãi suất.

Tuy nhiên, đến hạn trả nợ gốc thì bà N không chịu trả tiền cho ông P. Trong thời hạn vay tiền bà N cũng không trả tiền lãi cho ông P. Mặc dù ông P đã rất nhiều lần liên hệ yêu cầu bà N trả tiền gốc, nhưng bà N chỉ hứa hẹn và luôn trốn tránh không chịu thực hiện. Đến nay bà N chưa trả cho ông P bất kỳ số tiền nào.

Do đó, ông P căn cứ vào Giấy mượn tiền lập ngày 12/12/2020 yêu cầu Toà án giải quyết: buộc bà Đỗ Thị Thanh N phải thanh toán cho ông P các khoản tiền sau: Tiền vay nợ gốc là 476.400.000 đồng (bốn trăm bảy mươi sáu triệu bốn trăm ngàn đồng). Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả, tính từ ngày 02/01/2021 đến ngày Toà án đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm là ngày 09/7/2024 (42 tháng 7 ngày), cụ thể: 476.400.000₫ x 10%/năm x 42 tháng 7 ngày = 167.666.333 đồng (một trăm sáu mươi bảy triệu, sáu trăm sáu mươi sáu ngàn, ba trăm ba mươi ba đồng). Tổng số tiền ông P yêu cầu bà N thanh toán là: 476.400.000 đồng + 167.666.333 đồng =

644.066.333 đồng (sáu trăm bốn mươi bốn triệu, không trăm sáu mươi ngàn ba trăm ba mươi ba đồng).

Quá trình tiến hành tố tụng, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà N, ông B nhưng bà N, ông B vẫn không đến Toà án tham gia tố tụng, không cung cấp ý kiến cũng như không cung cấp các tài liệu, chứng cứ để phản đối yêu cầu khởi kiện của ông P. Như vậy, cho thấy bà N, ông B đã từ bỏ nghĩa vụ chứng minh. Căn cứ vào Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án. Do bà N, ông B không phản đối đối với trình bày và tài liệu, chứng cứ là Bản chính Giấy mượn tiền lập ngày 12/12/2020 do phía nguyên đơn cung cấp. Nội dung Giấy mượn tiền lập ngày 12/12/2020 thể hiện bà N còn nợ ông P số tiền 476.400.000 đồng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xác định đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.

Ông P xác định chỉ cho bà N vay tiền và một mình bà N ký tên xác nhận vào Giấy mượn tiền có nội dung còn nợ ông P số tiền 476.400.000 đồng. Nay, ông P khởi kiện chỉ yêu cầu Toà án buộc bà N thanh toán tiền gốc và lãi, không yêu cầu ông B có trách nhiệm liên đới trả cho bà N số tiền trên. Do đó, căn cứ vào Giấy mượn tiền ngày 12/12/2020 và các phân tích như trên, ông P khởi kiện yêu cầu bà N phải trả số tiền nợ gốc 476.400.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.

[2.2] Về lãi suất: Căn cứ vào Giấy mượn tiền ngày 12/12/2020 và lời khai của nguyên đơn xác định Hợp đồng vay tài sản giữa ông P và bà N là hợp đồng vay có thời hạn, không thoả thuận lãi suất. Đến hạn trả tiền gốc nhưng bà N không thực hiện. Vì vậy, nguyên đơn thay đổi yêu cầu về lãi suất, cụ thể chỉ yêu cầu tính lãi với mức lãi suất 10%/năm trên nợ gốc quá hạn chưa trả tính từ ngày 02/01/2021 đến ngày Toà án đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm là ngày 09/7/2024 (42 tháng 7 ngày). Mức lãi suất mà nguyên đơn yêu cầu là không vượt quá quy định của pháp luật, có lợi cho nguyên đơn nên cần chấp nhận. Căn cứ Điều 357, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông P về số tiền lãi trên số nợ gốc 476.400.000 đồng tính từ ngày 02/01/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là: 476.400.000₫ x 10%/năm x 42 tháng 7 ngày = 167.666.333 đồng (một trăm sáu mươi bảy triệu, sáu trăm sáu mươi sáu ngàn, ba trăm ba mươi ba đồng).

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Châu P buộc bà Đỗ Thị Thanh N thanh toán cho ông Trần Châu P tổng số tiền là 644.066.333 đồng. Trong đó, nợ gốc là 476.400.000 đồng, nợ lãi tính từ ngày 02/01/2021 đến ngày 09/7/2024 là 167.666.333 đồng.

Kể từ ngày ông P có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bà N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Về án phí: Do yêu cầu của ông P được chấp nhận nên bà N phải chịu 23.056.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Hoàn trả cho ông Trần Châu P số tiền 19.411.256 đồng (Mười chín triệu bốn trăm mười một nghìn hai trăm năm mươi sáu đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001926 ngày 27/12/2023 do ông Trần Châu P nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

[4] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai tại phiên toà phù hợp với quy định pháp luật, tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án và quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35, Điều 39; Điều 40, Điều 227; Điều 228; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 463, Điều 466; khoản 2 Điều 468; Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Châu P về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Đỗ Thị Thanh N phải thanh toán cho ông Trần Châu P số tiền 644.066.333 đồng (Sáu trăm bốn mươi bốn triệu, không trăm sáu mươi sáu nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).

Kể từ ngày ông P có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bà N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Bà Đỗ Thị Thanh N phải nộp 23.056.000 đồng (Hai mươi ba triệu không trăm năm mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho ông Trần Châu P số tiền 19.411.256 đồng (Mười chín triệu bốn trăm mười một nghìn hai trăm năm mươi sáu đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001926 ngày 27/12/2023 do ông Trần Châu P nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

3. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự.
  • - VKSND TP. Biên Hòa.
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hoà.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trần Trúc Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/DSST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 93/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông P và bà N tranh chấp HĐ vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger