Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08-8-2024

V/v Tranh chấp HNGĐ - Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Hà;

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Võ Chí Sĩ;
  • 2. Bà Nguyễn Thị Phượng;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Vào các ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 205/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 315/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 360/2024/QĐÐST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Bảo T, sinh năm 1993;

    Địa chỉ: Số H, đường P, tổ E, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1978;

    Địa chỉ: Ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 12/4/2024, Biên bản không tiến hành phiên họp và hòa giải được ngày 17/6/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm, chị Lê Bảo T là nguyên đơn trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Lê Bảo T và anh Nguyễn Quốc V kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 119 ngày 10/12/2010. Trong khoảng thời gian đầu cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, vợ chồng hòa thuận. Nhưng đến nay vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, không cùng quan điểm sống. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân hơn 01 năm nay. Mâu thuẫn kéo dài không giải quyết được nên hôn nhân không có hạnh phúc.

Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Lê Bảo T được ly hôn với anh Nguyễn Quốc V.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Lê Quốc T1, sinh ngày 22/6/2010 và Nguyễn Lê Quốc Đ, sinh ngày 22/02/2018. Hiện cả 02 con chung đang sống với chị T. Khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Lê Quốc T1Nguyễn Lê Quốc Đ, chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, cũng không cho ai mượn nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Quốc V đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án và được triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có văn bản ý kiến, không tham gia phiên hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
  2. Chị Lê Bảo T có đơn yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Quốc V. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp hôn nhân gia đình - Ly hôn, nuôi con”.

    Anh Nguyễn Quốc V là bị đơn trong vụ kiện có địa chỉ: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

    Anh Nguyễn Quốc V đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh V theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

  3. Về nội dung vụ án:
  4. - Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Bảo T Hội đồng xét xử nhận định: Chị T và anh V kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 119 ngày 10/12/2010, do đó hôn nhân giữa chị T và anh V là hợp pháp.

    Chị T cho rằng cuộc sống hôn nhân giữa chị T và anh V thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cự cãi. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Chị T, anh V đã sống ly thân hơn 01 năm nay. Sau khi ly thân chị T, anh V tiến hành hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Tại phiên tòa sơ thẩm chị T xác định không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng vì mâu thuẫn vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng. Anh V là bị đơn đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng của Tòa án và biết rõ nội dung xin ly hôn của chị T nhưng vẫn không tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của chị T.

    Từ những căn cứ nêu trên đủ cơ sở để xác định hôn nhân giữa chị T và anh V đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Lê Bảo T.

    - Về con chung: Căn cứ vào lời trình bày của chị T và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì chị T và anh V có 02 con chung tên Nguyễn Lê Quốc T1, sinh ngày 22/6/2010 và Nguyễn Lê Quốc Đ, sinh ngày 22/02/2018. Hiện nay, cả 02 con chung đang sống với chị T. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T xác định con chung sống với chị T vẫn phát triển tốt về tinh thần và thể chất. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Lê Quốc T1, sinh ngày 22/6/2010 và Nguyễn Lê Quốc Đ, sinh ngày 22/02/2018. Xét thấy hai cháu Nguyễn Lê Quốc T1Nguyễn Lê Quốc Đ đang chung sống với chị T ổn định và phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Tại văn bản ý kiến ngày 28/5/2024 của cháu Nguyễn Lê Quốc T1 có nguyện vọng được tiếp tục sống với chị T. Do đó, giao 02 con chung tên Nguyễn Lê Quốc T1, sinh ngày 22/6/2010 và Nguyễn Lê Quốc Đ, sinh ngày 22/02/2018 cho chị Lê Bảo T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

    Anh Nguyễn Quốc V không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không có yêu cầu. Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

    - Về tài sản chung và nợ chung: Chị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    - Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án chị T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo biên lai số 0008564 ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Bảo T.

  1. Về hôn nhân: Chị Lê Bảo T được ly hôn với anh Nguyễn Quốc V.
  2. Về con chung: Chị Lê Bảo T được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Lê Quốc T1, sinh ngày 22/6/2010 và Nguyễn Lê Quốc Đ, sinh ngày 22/02/2018. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không có yêu cầu.

    Anh Nguyễn Quốc V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

  3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Lê Bảo T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo biên lai số: 0008564 ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKS HCL;
  • - Toà án Tỉnh;
  • - Lưu: HSVA.

4

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Trần Hữu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân gia đình - ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 93/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình - Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger