Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/HSST

Ngày: 05/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Định;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Lan và bà Ngô Minh Thuỷ.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Ân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Liên - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 05/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 90/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 55/2024/QĐST-HPT ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Tiến T, sinh năm 1984; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Văn T1 (đã chết); con bà: Bùi Thị M, sinh năm 1959; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1986; con: Có 02 con: Lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Theo danh chỉ bản số 232 lập ngày 25 tháng 5 năm 2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 15/5/2024 đến ngày 24/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Nguyễn Khắc T2, sinh năm 1990; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Khắc T3, sinh năm 1957; con bà: Hà Thị M1, sinh năm 1956; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Theo danh chỉ bản số 243 lập ngày 25 tháng 5 năm 2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Hà Văn H, sinh năm 1990; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Hà Văn H1, sinh năm 1961; con bà: Lê Thị M2, sinh năm 1963; Vợ: La Thị L, sinh năm 2000; con: Có 02 con: Lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không. Theo danh chỉ bản số 244 lập ngày 25 tháng 5 năm 2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
  4. Họ và tên: Hà Văn H2, sinh năm 1984; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Hà Văn T4, sinh năm 1960; con bà: Đỗ Thị M3, sinh năm 1958; Vợ: Nguyễn Thị T5, sinh năm 1985; con: Có 04 con: Lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Theo danh chỉ bản số 236 lập ngày 25 tháng 5 năm 2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 15/5/2024 đến ngày 24/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
  5. Họ và tên: Chu Văn C, sinh năm 1989; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Chu Văn Đ, sinh năm 1964; con bà: Vũ Thị H3, sinh năm 1971; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Theo danh chỉ bản số 238 lập ngày 25 tháng 5 năm 2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 15/5/2024 đến ngày 24/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
  6. Họ và tên: Nguyễn Văn T6, sinh năm 1988; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn P, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1967; con bà: Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1966; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Theo danh chỉ bản số 237 lập ngày 25 tháng 5 năm 2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 15/5/2024 đến ngày 24/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
  7. Họ và tên: Hà Văn H4, sinh năm 1992; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Hà Văn H1, sinh năm 1961; con bà: Lê Thị M2, sinh năm 1963; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Theo danh chỉ bản số 244 lập ngày 25 tháng 5 năm 2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 15/5/2024 đến ngày 24/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trứ”, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T7, sinh năm 1979; trú tại: P, sảnh A, E1 E, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội.

* Người làm chứng: Hà Ngọc B1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Ngọc T8, sinh năm 1964 - Trưởng thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tiến T hiện đang buôn bán hoa quả tại chợ H9 ở thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/5/2024 T đi đến gian hàng buôn bán hoa quả thuê của gia đình ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1960, địa chỉ: T thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội chờ hàng hoa quả về để buôn bán cho khách. Khi đang ngồi uống nước tại gian hàng bán hoa quả thì lần lượt có Nguyễn Khắc T2, Hà Văn H2Hà Văn H đều làm nghề bốc vác thuê và buôn bán hoa quả tại chợ đi vào quán cùng ngồi chơi uống nước. Trong lúc ngồi nói chuyện, T2 rủ T, H2 và H đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh liêng, T, H2 và H đồng ý. Thao lấy 01 bộ bài tú lơ khơ có sẵn ở quán làm công cụ đánh bạc. Sau đó, các đối tượng T, T2, H2H ngồi tại bàn uống nước trong quán bán hoa quả của T đánh bạc ăn tiền. Khi bắt đầu chơi, các đối tượng thống nhất đánh bằng hình thức đánh "Liêng", quy định mỗi người chơi bỏ ra giữa góp gà 20.000 đồng, sau khi chia bài mỗi người được tố thấp nhất 20.000 đồng, tố cao nhất là 200.000 đồng, ai không theo tố thì bị thua số tiền đã bỏ ra giữa, ai theo tố thì cùng lật bài so sánh điểm số, người có điểm cao nhất thắng toàn bộ số tiền đặt ra ban đầu và số tiền tố ở giữa của những người chơi đã đặt, người nào thắng thì sẽ được chia bài ván bài tiếp theo. Khi bắt đầu chơi đánh bạc, Hà Văn H2 vay của Nguyễn Khắc T2 1.000.000 đồng để đánh bạc. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì Nguyễn Khắc T2Hà Văn H không tham gia chơi nữa bỏ ra về trước. Sau đó, lần lượt các đối tượng Chu Văn CNguyễn Văn T6 đi đến vào thay cùng tham gia chơi đánh bạc. Đến khoảng 30 – 40 phút sau đó thì lần lượt có thêm đối tượng Hà Văn H4 đi đến cùng tham gia chơi đánh bạc và Hà Ngọc B1 sinh năm 1987, trú tại: thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội chỉ vào ngồi xem, không tham gia đánh bạc. Đến khoảng 18 giờ 25 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang sát phạt nhau cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc sát phạt nhau được thua bằng tiền thì tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự Công an huyện M phối hợp với Công an xã T, huyện M kiểm tra hành chính phát hiện bắt giữ lập biên bản phạm tội quả tang đối với Nguyễn Tiến T, Chu Văn C, Hà Văn H2, Nguyễn Văn T6Hà Văn H4. Khi tham gia đánh bạc, T có khoảng 7.000.000 đồng; T2 có khoảng 1.500.000 đồng; H2 có khoảng 1.000.000 đồng; H có khoảng 300.000 đồng; C có khoảng 4.200.000 đồng; T6 có khoảng 4.000.000 đồng; H4 có khoảng 6.000.000 đồng.

Tại cơ quan CSĐT - Công an huyện M, Nguyễn Tiến T, Nguyễn Khắc T2, Hà Văn H, Hà Văn H2, Chu Văn C, Nguyễn Văn T6Hà Văn H4 đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

* Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang: Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 23.230.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 quân bài.

Tại bản cáo trạng số: 89/CT-VKS ngày 05/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã truy tố: Các bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Khắc T2, Hà Văn H, Hà Văn H2, Chu Văn C, Nguyễn Văn T6Hà Văn H4 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại điện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Khắc T2, Hà Văn H, Hà Văn H2, Chu Văn C, Nguyễn Văn T6Hà Văn H4 phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt:

  • - Bị cáo Nguyễn Tiến T từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Bị cáo Nguyễn Khắc T2 từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Bị cáo Chu Văn C từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Bị cáo Nguyễn Văn T6 từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt:

  • - Bị cáo Hà Văn H4 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Bị cáo Hà Văn H2 10 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Bị cáo Hà Văn H 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

* Về vật chứng vụ án: Áp dụng: Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 23.710.000 đồng;
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 quân bài.

* Ngoài ra, các bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

* Tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Khắc T2, Hà Văn H, Hà Văn H2, Chu Văn C, Nguyễn Văn T6Hà Văn H4 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đầy đủ cơ sở để xác định: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/5/2024, tại gian hàng buôn bán hoa quả của Nguyễn Tiến T ở thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, Nguyễn Tiến T đã cùng với Nguyễn Khắc T2, Hà Văn H, Hà Văn H2, Chu Văn C, Nguyễn Văn T6Hà Văn H4 thực hiện hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh “Liêng”. Đến 18 giờ 25 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc sát phạt nhau được thua bằng tiền thì bị Đ3 Công an huyện M phối hợp với Công an xã T, huyện M phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là: 23.230.000 đồng.

Trong vụ án này, Nguyễn Khắc T2 là người giữ vai trò khởi xướng; Nguyễn Tiến T chuẩn bị công cụ trực tiếp tham gia đánh bạc tích cực cùng Hà Văn H, Hà Văn H2, Chu Văn C, Nguyễn Văn T6Hà Văn H4;

Như vậy, có đầy đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của của các bị cáo Nguyễn Tiến T ở thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, Nguyễn Tiến T đã cùng với Nguyễn Khắc T2, Hà Văn H, Hà Văn H2, Chu Văn C, Nguyễn Văn T6Hà Văn H4 đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015. Cụ thể khoản 1 Điều 321 quy định:

"1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000₫ đến dưới 50.000.000đ... thì bị phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, hành vi đó còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác, nên đối với các bị cáo cần phải được đưa ra xét xử thật nghiêm minh trước pháp luật, nhằm giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[4] Xét vai trò của các bị cáo thì thấy: Trong vụ án này Nguyễn Khắc T2 là người giữ vai trò khởi xướng và trực tiếp đánh bạc; Nguyễn Tiến T chuẩn bị công cụ, trực tiếp tham gia đánh bạc; các bị cáo Hà Văn H, Hà Văn H2, Chu Văn C, Nguyễn Văn T6Hà Văn H4 tham gia đánh bạc tích cực, sát phạt nhau bằng tiền nên các bị cáo cũng phải chịu trách nhiệm do hành vi phạm tội của mình gây ra tương ứng với số tiền tham gia đánh bạc và vai trò của mình.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

  • - Về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự;
  • - Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự;
  • - Về tình tiết giảm nhẹ:
    • + Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có nơi cư trú rõ ràng nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; gia đình bị cáo H, H2 và H4 có công với cách mạng nên xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước và pháp luật đối với các bị cáo.

Xét thấy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện cải tạo các bị cáo trở thành người tốt, người có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, tuy nhiên, cần được xem xét để đưa ra mức hình phạt phù hợp hơn đối với tính chất và hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Các bị cáo có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Nhưng các bị cáo đều làm tự do thu nhập thấp, không ổn định, kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng vụ án:

  • - Số tiền 23.710.000 đồng là tang vật của vụ án, được xác định là số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 quân bài đã qua sử dụng là tang vật của vụ án các bị cáo sử dụng để đánh bạc, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Vấn đề khác:

  • - Đối với Hà Ngọc B1, quá trình điều tra xác định có mặt tại nơi đánh bạc nhưng chỉ ngồi xem, không tham gia đánh bạc, nên chưa có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Khắc T2, Hà Văn H, Hà Văn H2, Chu Văn C, Nguyễn Văn T6Hà Văn H4 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

  • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến T 10 ( Mười ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20( Hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khắc T2 10 ( Mười ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20( Hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Xử phạt: Bị cáo Chu Văn C 09 ( Chín ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18( Mười tám ) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T6 09 ( Chín ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18( Mười tám ) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

  • - Xử phạt: Bị cáo Hà Văn H4 08 ( Tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 ( Mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Xử phạt: Bị cáo Hà Văn H2 08 ( Tám ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 ( Mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Xử phạt: Bị cáo Hà Văn H 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 ( Mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Khắc T2, Hà Văn H, Hà Văn H2, Nguyễn Văn T6Hà Văn H4 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách;

Giao bị cáo Chu Văn C cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách;

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 23.710.000 đồng tiền ngân hàng N5.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 quân bài đã qua sử dụng.
  • (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện M và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội ngày 06/8/2024).

4. Về án phí: Áp dụng điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án".

Các bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Khắc T2, Hà Văn H, Hà Văn H2, Chu Văn C, Nguyễn Văn T6Hà Văn H4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HSST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về đánh bạc

  • Số bản án: 93/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Thao cùng đồng bọn đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger