Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 93/2024/DS-ST

Ngày: 05/6/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị H

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Quốc K
  2. Ông Đỗ Đắc T

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy T - CBTA.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy D - Kiểm sát viên.

Ngày 05/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2023/TLST-DS ngày 12/06/2023 về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXX-ST ngày 02/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2024/QĐST-HPT ngày 20/5/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B (Sau đây gọi tắt là L1)

Địa chỉ: Tòa nhà L, số B đường T, phường T, quận H, Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Nam T – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức N – Phó Giám đốc Khối Xử lý nợ (theo Quyết định số 7496A/2024/QĐ-LPBankXLN ngày 29/3/2024)

Người được ủy quyền lại: Ông Đinh Khắc N1, ông Phạm Mạnh T1. Theo giấy ủy quyền số 12153/2024/UQ-LPBank.XLN ngày 06/5/2024. Có mặt

Bị đơn: Bà Tạ Thị Hải T2, sinh năm 1986

Địa chỉ: Phòng 2135 Tòa G3 dự án V, số G Đại Lộ T, phường M, quận N, TP Hà Nội. Vắng mặt

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1986

HKTT: TDP A M, phường M, quận N, Hà Nội.

Địa chỉ: P, Tòa N, Khu đô thị Đ, phường T, quận H, Hà Nội. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại Đơn khởi kiện, Bản tự khai, Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:

Thông tin tín dụng:

Ngân hàng TMCP B (sau đây gọi tắt là L2) cấp tín dụng cho Bà Tạ Thị Hải T2 theo Hợp đồng hạn mức tín dụng số: Hợp đồng tín dụng số HDTD101202230 ký ngày 20/01/2022 và các Khế ước nhận nợ kèm theo, chi tiết như sau:

  • Số tiền vay: 39.000.000.000 đồng (bằng chữ: Ba mươi chín tỷ đồng);
  • Số tiền mà bà Tạ Thị Hải T2 đã được giải ngân số tiền là 39.000.000.000 đồng theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ Số: [...]/01 ngày 21/01/2022;
  • Thời hạn vay: 15 năm kể từ ngày 22/01/2022 đến hết ngày 21/01/2037;
  • Phương thức điều chỉnh lãi suất:
    • + Từ ngày 21/01/2022 đến hết ngày 20/01/2023: Áp dụng lãi suất 7,5%;
    • + Từ ngày 21/01/2023 đến ngày 21/01/2037: Áp dụng lãi suất thả nổi với định kỳ điều chỉnh 03 tháng/lần vào ngày 15 của tháng điều chỉnh; lãi suất điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) tối thiểu 3,5%/năm. L3 có quyền điều chỉnh lái suất không theo quy định này nếu lãi suất trên thị trường có sự biến động mạnh hoặc khi có chỉ đạo bằng văn bản của các cấp có thẩm quyền của L3.
  • Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm xử lý chuyển nợ quá hạn đối với toàn bộ dư nợ gốc quá hạn;
  • Lãi suất nợ lãi chậm trả: Bằng 10%/năm;
  • Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà Tạ Thị Hải T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn. Kể từ khi khoản vay của bà T2 phát sinh nợ quá hạn, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với khách hàng để yêu cầu trả nợ, tất toán khoản vay, làm việc với bên thế chấp để yêu cầu bàn giao tài sản bảo đảm nhưng bà T2 không thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Tạ Thị Hải T2 đã thanh toán cho L2 số tiền là 5.559.331.714 đồng (Trong đó Nợ gốc: 2.831671.025 đồng; và Nợ lãi: 2.727.660.689 đồng).
  • Tính đến ngày xét xử 05/6/2024, tổng nghĩa vụ của bà Tạ Thị Hải T2 tại Ngân hàng TMCP B là 44.366.878.484 đồng), trong đó:
    • + Nợ gốc: 36.168.328.975 đồng + Nợ lãi trong hạn: 6.512.103.349 đồng + Nợ Lãi quá hạn: 532.265.339 đồng + Nợ lãi chậm trả 433.669.121 đồng + Dư nợ thẻ tín dụng: 720.511.700 đồng.

Tài sản bảo đảm của khoản vay là:

Toàn bộ Quyền sử dụng tại thửa đất số 05, tờ bản đồ số 39, địa chỉ số A tổ A, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội (địa chỉ thực tế: số C ngõ A N, phường L, quận Đ, TP Hà Nội) theo GCN số DC256229 số vào số GCN: CS-ĐĐ-15716 do Sở T5 cấp ngày 15/6/2021 cho ông Đào Mạnh H và bà Trần Thu H1, ngày 17/01/2022 chuyển nhượng cho bà Tạ Thị Hải T2. Tài sản này ký hợp đồng thế chấp số công chứng 608, quyền số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/01/2022 tại văn phòng C- thành phố Hà Nội và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Trên cơ sở những nội dung đã trình bày ở trên, L2 kính đề nghị Quý Tòa xem xét và giải quyết các yêu cầu sau, cụ thể:

  • Buộc bà Tạ Thị Hải T2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngay cho L2 theo Hợp đồng hạn mức tín dụng số: HDTD101202230 ký ngày 20/01/2022 và các khế ước nhận nợ kèm theo với tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày xét xử 05/6/2024 Tính đến ngày xét xử 05/6/2024, tổng nghĩa vụ của bà Tạ Thị Hải T2 tại Ngân hàng TMCP B là 44.366.878.484 đồng, trong đó:
    • + Nợ gốc: 36.168.328.975 đồng + Nợ lãi trong hạn: 6.512.103.349 đồng + Nợ Lãi quá hạn: 532.265.339 đồng+ lãi chậm trả 433.669.121 đồng+ Dư nợ thẻ tín dụng: 720.511.700 đồng.
  • Trong thời gian chưa thanh toán hết khoản nợ bà Tạ Thị Hải T2 phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định tại Hợp đồng tín dụng và các Khế ước nhận nợ kèm theo cho đến khi tất toán khoản vay.
  • Ngay sau khi Bản án Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Tạ Thị Hải T2 không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP B được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại toàn bộ các tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng tại thửa đất số 05, tờ bản đồ số 39, địa chỉ số A tổ A, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội (địa chỉ thực tế: số C ngõ A N, phường L, quận Đ, TP Hà Nội) theo GCN số DC256229 số vào số GCN: CS-ĐĐ-15716 do Sở T5 cấp ngày 15/6/2021 cho ông Đào Mạnh H và bà Trần Thu H1, ngày 17/01/2022 chuyển nhượng cho bà Tạ Thị Hải T2.
  • Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đề nghị tòa án tuyên bà Tạ Thị Hải T2 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP B.
  • Bà Tạ Thị Hải T2 phải chịu toàn bộ án phí và các chi phí tố tụng liên quan trong vụ án.

Trong bản tự khai, bị đơn bà Tạ Thị Hải T2 trình bày:

Tôi và ngân hàng ký kết Hợp đồng hạn mức tín dụng số: Hợp đồng tín dụng số HDTD101202230 ký ngày 20/01/2022 và các Khế ước nhận nợ kèm theo, chi tiết như sau:

  • Số tiền vay: 39.000.000.000 đồng (bằng chữ: Ba mươi chín tỷ đồng);
  • Số tiền đã được giải ngân số tiền là 39.000.000.000 đồng theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ Số: [...]/01 ngày 21/01/2022;
  • Thời hạn vay: 15 năm kể từ ngày 22/01/2022 đến hết ngày 21/01/2037;
  • Tài sản bảo đảm của khoản vay là: Toàn bộ Quyền sử dụng tại thửa đất số 05, tờ bản đồ số 39, địa chỉ số A tổ A, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội (địa chỉ thực tế: số C ngõ A N, phường L, quận Đ, TP Hà Nội) theo GCN số DC256229 số vào số GCN: CS-ĐĐ-15716 do Sở T5 cấp ngày 15/6/2021 cho ông Đào Mạnh H và bà Trần Thu H1, ngày 17/01/2022 chuyển nhượng cho bà Tạ Thị Hải T2. Tài sản này ký hợp đồng thế chấp số công chứng 608, quyền số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/01/2022 tại văn phòng C- thành phố Hà Nội và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng tôi đã thanh toán cho L2 số tiền là 5.544.331.689 đồng (Trong đó Nợ gốc: 2.816.671.000 đồng; và Nợ lãi: 2.727.660.689 đồng).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Ngọc M trình bày:

Việc vay nợ giữa bà T2 và L2, tôi không biết và không liên quan.

Tôi có thuê nhà của bà Tạ Thị Hải T2 ở địa chỉ số C ngõ A N, phường L, quận Đ, TP Hà Nội trong thời gian 10 năm kể từ năm 2022 đến tháng 01/2032. Tôi đã thanh toán hết tiền nhà trong vòng 10 năm là 2.400.000.000 đồng. Và sau khi thuê nhà, tôi đã sửa chữa đầu tư hết 2.000.000.000 đồng. Do vậy, tôi đề nghị bà Tạ Thị Hải T2 cho tôi tiếp tục hoạt động kinh doanh theo hợp đồng đã ký.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu ý kiến:

  1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
    • * Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
    • Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại điều 30, 35, 68, 97 Bộ luật tố tụng Dân sự.
    • * Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
    • Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
    • * Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
    • Nguyên đơn đã chấp hành nghĩa vụ quy định tại điều 70, 71 bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không chấp hành quy định tại điều 70, 72, 73 BLTTDS. Tòa án để hồ sơ quá hạn luật định.
  2. Về đường lối giải quyết vụ án:

    Tòa án cung cấp các thông báo điều chỉnh lãi suất và bảng tính lãi có sự điều chỉnh lãi suất tính đến ngày xét xử.

    Tòa án đã tống đạt quyết định cung cấp quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ đối với ông M về tài liệu đã sửa chữa nhà thuê số tiền 2.200.000.000 đồng nhưng ông M không cung cấp được.

    Tuy nhiên do tòa án chưa bổ sung đầy đủ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 259 BLTTDS tạm ngừng phiên tòa để bổ sung người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là công ty CP T6 làm rõ nội dung liên quan đến tài sản thế chấp và nghĩa vụ trả nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định.

  1. Về tố tụng:

    Đây là vụ án phát sinh từ hợp đồng tín dụng giữa L2 và bà Tạ Thị Hải T2. Trong đó, bị đơn có địa chỉ trụ sở tại phòng B Tòa G V, số G Đại Lộ T, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

    Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác cho các đương sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do. Bởi các lẽ trên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

  2. Về nội dung:
    • * Xét luật nội dung áp dụng để giải quyết vụ án:
    • L2 và bà Tạ Thị Hải T2 đã cùng nhau ký kết Hợp đồng tín dụng số HDTD101202230 ký ngày 20/01/2022 và giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số [...]/01 ngày 21/01/2022.

      Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ được ký kết năm 2022 nên HĐXX áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để xét xử.

    • * Về việc ký kết Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, Hợp đồng thế chấp:
    • Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

      Theo các tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án:

    • - Về Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ:
    • L2 đã cho bà Tạ Thị Hải T2 vay tổng số tiền là 39.000.000.000 đồng (ba mươi chín tỷ đồng) theo Hợp đồng tín dụng số HDTD101202230 ký ngày 20/01/2022 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số [...]/01 ngày 21/01/2022.

      Quá trình thực hiện hợp đồng bà Tạ Thị Hải T2 đã thanh toán cho L2 số tiền là 5.544.331.689 đồng (Trong đó Nợ gốc: 2.816.671.000 đồng; và Nợ lãi: 2.727.660.689 đồng).

      Sau đó bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn kể từ ngày 25/4/2023. Căn cứ vào quy định trong Hợp đồng tín dụng số HDTD101202230 ký ngày 20/01/2022 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số [...]/01 ngày 21/01/2022. Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ mà hai bên đã ký kết thì nguyên đơn có quyền thu hồi nợ trước hạn, món nợ đã chuyển sang quá hạn và chấm dứt Hợp đồng trước hạn và yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ khoản vay là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

      Quá trình giải quyết vụ án bị đơn xác nhận có ký kết Hợp đồng tín dụng các giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, Hợp đồng thế chấp đảm bảo cho khoản vay của bị đơn. Do đó, Hợp đồng tín dụng, Giấy đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ, Hợp đồng thế chấp đều dựa trên cơ sở tự nguyện và thỏa thuận của nguyên đơn, bị đơn.

      Căn cứ Điều 117, 119, 292, 335, 342, 336, 388, 393, 398, 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự 2015, Hội đồng xét xử công nhận Hợp đồng tín dụng, Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, Hợp đồng thế chấp là có thật và hợp pháp.

Về yêu cầu trả nợ tiền gốc và tiền lãi:

Căn cứ Điều 4 của Hợp đồng tín dụng

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng L3 đã giải ngân theo đúng quy định tại Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ.

Theo Hợp đồng tín dụng thì bên vay cam kết thực hiện nghã vụ bao gồm trả nợ gốc và lãi được quy định:

  • Điều 4.1 Kỳ hạn Trả nợ gốc: Quy định cụ thể trong từng Giấy đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ;
  • Điều 4.2 Kỳ hạn trả lãi: Quy định cụ thể trong từng Giấy đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ;
  • Điều 4.3 Nếu bên vay trả nợ gốc trước hạn, thì phải thanh toán cho Ngân hàng số phí trả trước hạn được quy định cụ thể trong từng Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ.
  • Điều 4.4 Nếu bên vay không trả hoặc trả không đủ nợ gốc và /hoặc lãi đúng hạn, thì phải thanh toán cho ngân hàng số tiền lãi như sau:
    • - Số tiền lãi chậm trả lãi = Số tiền lãi chậm trả x Lãi xuất nợ lãi chậm trả: 365 ngày
    • - Số tiền lãi trên dư nợ gốc quá hạn = Dư nợ gốc quá hạn x Lãi xuất nợ gốc quá hạn x Số ngày chậm trả : 365 ngày
  • Điều 4.5:...... Riêng đối với khoản nợ vay bị quá hạn, ngân hàng sẽ thực hiện việc thu nợ gốc trước, nợ lãi tiền vay trong hạn và quá hạn, lãi phạt thu sau.

Về lãi suất qua xem xét thấy quan hệ tranh chấp giữa L2 và bị đơn là Tranh chấp Hợp đồng tín dụng nên cần áp dụng các quy định tại Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn liên quan để giải quyết tranh chấp này.

Theo quy định tại khoản 2, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định về lãi suất thì các tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. Tại Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao có quy định: Lãi, lãi suất trong Hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và văn bản quy định pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật các tổ chức tín dụng khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng thì Tòa án áp dụng quy định của Luật các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật dân sự 2005 và 2015 để xác định lãi suất.

Như vậy, thỏa thuận của các bên trong H2 tín dụng về lãi suất là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật về áp dụng lãi suất cho vay và L2 thực hiện đúng hợp đồng, theo từng giai đoạn điều chỉnh lãi suất của bên cho vay và phù hợp với quy định về áp dụng mức lãi suất của Ngân hàng N3 tại thời điểm điều chỉnh. Với các phân tích trên, thấy trong vụ án này cần áp dụng các quy định về lãi suất theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật các tổ chức tín dụng để giải quyết.

Cần xác định lãi suất theo thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng, buộc bị đơn phải thanh toán số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp, Giấy nhận nợ kiêm khế ước nhận nợ, cụ thể như sau:

Tính đến ngày xét xử 05/6/2024, bị đơn còn nợ tổng số tiền là 43.933.209.363 đồng, trong đó: Nợ gốc: 36.168.328.975 đồng, N2 lãi trong hạn: 6.512.103.349 đồng, L quá hạn: 523.265.339 đồng, Thẻ tín dụng 720.511.700 đồng và tiếp tục phải trả các khoản lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng cho đến ngày thực trả.

HĐXX không chấp nhận lãi chậm trả lãi trên lãi trong hạn là 433.669.121 đồng, vì đây là lãi chồng lãi, theo quy định tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N3.

Trong quá trình giải quyết L2 cung cấp cho Tòa án các tài liệu liên quan đến việc điều chỉnh lãi suất từng thời kỳ. L2 đã áp dụng các quy định về điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ là đúng quy định. L2 đã thực hiện đúng theo quy định về việc điều chỉnh lãi suất cho khách hàng.

- Về việc xử lý tài sản đảm bảo:

Bà Tạ Thị Hải T2 đã ký 01 Hợp đồng thế chấp 01 bất động sản với L2 để bảo đảm cho các nghĩa vụ trả nợ tại 01 Hợp đồng tín dụng nêu trên, tài sản bảo đảm cụ thể như sau:

Toàn bộ Quyền sử dụng tại thửa đất số 05, tờ bản đồ số 39, có diện tích 223,1m2 tại địa chỉ số A tổ A, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội (địa chỉ thực tế: số C ngõ A N, phường L, quận Đ, TP Hà Nội) theo GCN số DC256229 số vào số GCN: CS-ĐĐ-15716 do Sở T5 cấp ngày 15/6/2021 cho ông Đào Mạnh H và bà Trần Thu H1, ngày 17/01/2022 chuyển nhượng cho bà Tạ Thị Hải T2. Tài sản này ký hợp đồng thế chấp và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Tài sản đảm bảo này cũng đảm bảo cho khoản vay của Công ty T6, Tòa án quận Nam Từ Liêm đã xét xử vào ngày 29/01/2024.

Theo Điều 5 của Hợp đồng thế chấp có quy định về xử lý tài sản thế chấp gồm xử lý tài sản để thu hồi nợ, phương thức xử lý tài sản và bán tài sản thế chấp.

Như vậy, theo Hợp đồng thế chấp, mà các bên đã ký kết thì việc bị đơn không thanh toán được khoản nợ thì L2 có quyền yêu cầu phát mại tài sản thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu hợp pháp của bà Tạ Thị Hải T2 để thu hồi nợ là phù hợp với quy định.

Căn cứ Điều 342 Bộ luật dân sự 2015 trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì L2 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu của bà Tạ Thị Hải T2 để thu hồi khoản nợ là có căn cứ cần được chấp nhận.

Về ý kiến của ông M – Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Số tiền 2.000.000.000 đồng bỏ ra xây dựng, Tòa án đã ra 02 lần Thông báo yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ, nhưng ông M không nộp theo tài liệu chứng cứ, Không làm Đơn đối với yêu cầu của mình. Nên không có căn cứ để xem xét.

Giành quyền khởi kiện cho ông M bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

Về quan điểm của Viện kiểm sát: Hội đồng xét xử không đồng ý, HĐXX xác định Công ty CP T6 không liên quan đến vụ án.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về phần không được chấp nhận.

Vì các lễ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 117, 119, 292, 335, 351, 357, 342, 336, 388, 393, 398, 463, 466, 468, 470, của Bộ luật dân sự 2015;
  • Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N3.
  • Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B đối với bà Tạ Thị Hải T2.
  2. Buộc bà Tạ Thị Hải T2 phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP B số tiền nợ tạm tính đến ngày xét xử 05/6/2024, theo Hợp đồng tín dụng số HDTD101202230 ký ngày 20/01/2022 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số [...]/01 ngày 21/01/2022 là: 43.393.209.363 đồng, trong đó: Nợ gốc: 36.168.328.975 đồng, N2 lãi trong hạn: 6.512.103.349 đồng, L quá hạn: 523.265.339 đồng, T3 gốc lãi và lãi quá hạn của T4 tín dụng là 720.511.700 đông và tiếp tục phải trả các khoản lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng cho đến ngày thực trả.
  3. Không chấp nhận số tiền lãi chậm trả lãi trên lãi trong hạn là 433.669.121 đồng, theo quy định tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N3.
  4. Trường hợp bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nêu trên, Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mại 01 tài sản đảm bảo là: Toàn bộ Quyền sử dụng tại thửa đất số 05, tờ bản đồ số 39, có diện tích 223,1 m2 địa chỉ số A tổ A, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội (địa chỉ thực tế: số C ngõ A N, phường L, quận Đ, TP Hà Nội) theo GCN số DC256229 số vào số GCN: CS-ĐĐ-15716 do Sở T5 cấp ngày 15/6/2021 cho ông Đào Mạnh H và bà Trần Thu H1, ngày 17/01/2022 chuyển nhượng cho bà Tạ Thị Hải T2. Giá trị định giá tại thời điểm thế chấp: 60.061.000.000 đồng, nghĩa vụ bảo đảm thực hiện thay toàn bộ nghĩa vụ trả gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí, chi phí bồi thường thiệt hại và các khoản phải trả khác.
  5. Tài sản đảm bảo này cũng đảm bảo cho khoản vay của Công ty T6, Tòa án quận Nam Từ Liêm đã xét xử vào ngày 29/01/2024.

Nếu sau khi phát mại tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp nêu trên mà số tiền vẫn không đủ trả nợ thì buộc Công ty phải có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ.

Giành quyền khởi kiện cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Ngọc M, bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

  1. Về án phí:

    Bà Tạ Thị Hải T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 152.366.878 đồng.

    Ngân hàng TMCP B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về phần không được chấp nhận là 21.346.765 đồng. Sau khi đối trừ Ngân hàng TMCP B được nhận lại số tiền 51.547.993 đồng đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0035372 ngày 12/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - Chi cục THADS quận Nam Từ Liêm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Mai Thị H3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/DS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng.

  • Số bản án: 93/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger