Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/KDTM-ST

Ngày: 02/8/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trúc Lý

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Quốc Thắng

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Đào – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lan, Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 109/2023/KTST ngày 19 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 590/2024/QĐST-XX-KDTM ngày 11 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH F

Địa chỉ: Số B, đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Thảo L (có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Công ty TNHH MTV C

Địa chỉ: Số C Đường B, phường T, quận T Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Hà Thị Phương T (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn Công ty TNHH MTV C có người đại diện theo ủy quyền là bà Lê Thị Thảo L trình bày:

Công ty TNHH MTV C sau đay gọi tắt là “Công ty C” là khách hàng của công ty F “Công ty F1”. Năm 2022, thông qua việc đặt hàng trực tiếp qua điện thoại, trên ứng dụng Zalo, Công ty C thường xuyên liên hệ đặt hàng của Công ty F1.

Theo đó Công ty F1 có nghĩa vụ giao hàng sản phẩm là “Đề can CLW3P” theo đúng thời gian, địa điểm và số lượng hàng hóa theo thông tin đặt hàng và Công ty C có nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận.

Từ khi nhận được thông báo đặt hàng, Công ty F1 đã thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ cung cấp hàng hóa theo yêu cầu của Công ty C. Tuy nhiên, phía Công ty C đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo đúng thỏa thuận của các bên. Cụ thể các đơn hàng Công ty C còn nợ:

STTSố hóa đơnNgày tháng nămCông nợ (VNĐ)
10000344530/9/202211.210.400
20000391702/11/202219.800.369
30000391802/11/202213.924.251
40000426425/11/202232.631.606
50000453416/12/20228.734.770
60000465024/12/20222.008.530
70000466726/12/20223.447.198
Tổng cộng:91.757.124

Công ty F1 đã nhiều lần liên hệ, thông báo tạo điều kiện để Công ty C hoàn thành nghĩa vụ thanh toán, tuy nhiên phía Công ty C vẫn không thanh toán. Hành vi nêu trên của Công ty C đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty F1.

Nay Công ty F1 yêu cầu Công ty C phải trả cho Công ty F1 số tiền 103.226.764 đồng (Một trăm lẻ ba triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn bảy trăm sáu mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là: 91,757,124 đồng (Chín mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi bảy nghìn một trăm hai mươi bốn đồng) và lãi tính từ ngày 26/04/2023 đến thời gian xét xử vụ án tạm tính (02/08/2024) là: 91,757,124 x 10% x 15 tháng = 11.469.640 đồng (Mười một triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn sáu trăm bốn mươi đồng), yêu cầu trả một lần khi án có hiệu lực

- Bị đơn Công ty TNHH MTV C vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và nghe ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hợp đồng mua bán hàng hóa mà hai bên ký kết là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân và tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là quan hệ hợp đồng dân sự về Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. Do bị đơn có trụ sở tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hòa giải và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Giấy triệu tập đương sự, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà cho bị đơn là Công ty TNHH MTV C và người người đại diện theo pháp luật theo quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng Công ty TNHH MTV C và người người đại diện theo pháp luật vẫn vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt Nguyên đơn và Bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu của các đương sự:

- Về yêu cầu thanh toán số tiền gốc và lãi của Hợp đồng mua bán hàng hóa:

Xét Hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385, Điều 401 và Điều 472 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Xét, trong quá trình thực hiện Hợp đồng mua bán hàng hóa thì Công ty C vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty F1 khởi kiện yêu cầu Công ty C thanh toán tổng số tiền còn thiếu là 91,757,124 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ như các đơn hàng thể hiện Công ty C còn nợ Công ty F1 số tiền 91,757,124 (Chín mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi bảy nghìn một trăm hai mươi bốn) đồng. Phía Công ty F1 đã gửi Công văn ngày 20/4/2023 yêu cầu Công ty C thanh toán nợ quá hạn, tuy nhiên đến nay Công ty C vẫn không thanh toán số tiền còn thiếu cho Công ty F1. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 55 Luật thương mại 2005 chấp nhận chấp nhận yêu cầu của Công ty F1.

Xét yêu cầu tính lãi của Công ty F1 yêu cầu Công ty C GBP trả tiền lãi chậm trả từ ngày 26/04/2023 đến thời gian xét xử vụ án tạm tính (02/08/2024) là: 91,757,124 x 10% x 15 tháng = 11.469.640 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, theo căn cứ Điều 306 Luật Thương mại 2005 quy định về quyền yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán và Điều 11 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm do Hội đồng Tòa án nhân dân tối cao ban hành quy định về việc Xác định lãi suất trung bình quy định tại Điều 306 của Luật thương mại 2005. Nay Công ty F1 chỉ yêu cầu Công ty C GBP trả tiền lãi chậm trả lãi 10%/năm (tạm tính từ ngày 26/4/2023 đến 02/8/2024 là 15 tháng), là có lợi cho Công ty C nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Buộc Công ty C có nghĩa vụ trả tiền lãi chậm trả cho Công ty F1 là 11.469.640 đồng (Mười một triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn sáu trăm bốn mươi đồng).

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì Công ty C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho Công ty TNHH F là 103.226.764 đồng, do đó án phí Công ty C phải chịu là 5.161.000 đồng.

Hoàn trả cho Công ty TNHH F số tiền tạm ứng án phí là 3.000.000 đồng theo biên lai số 0006894 ngày 17/10/2023.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 50, Điều 55 và Điều 306 Luật thương mại 2005;

Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH F:

    Buộc Công ty TNHH MTV C có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH F số tiền 103.226.764 đồng (Một trăm lẻ ba triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn bảy trăm sáu mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là: 91,757,124 đồng (Chín mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi bảy nghìn một trăm hai mươi bốn đồng) và lãi là 11.469.640 đồng (Mười một triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn sáu trăm bốn mươi đồng).

    Thời hạn thanh toán: Một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    - Công ty TNHH MTV C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.161.000 đồng (Năm triệu một trăm sáu mươi mốt ngàn đồng).

    - Hoàn trả cho Công ty TNHH F số tiền tạm ứng án phí 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006894 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015

    Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  3. Về quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn, Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết.

    Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - Lưu VP, hồ sơ./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Trúc Lý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/KDTM-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 93/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger