|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 93/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02/7/2024 Tranh chấp xin ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
Bà Hà Thị Kim Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 245/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phan Ngọc Á, sinh năm: 1994. Địa chỉ: Số F ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm: 2002. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phan Ngọc Á trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2021, anh và chị Phạm Thị L do có người mai mối, sau đó mới tìm hiểu, tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã V, huyện T, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 07/2021, ngày 04/02/2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sinh sống tại số nhà F ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc. Đến khoảng tháng 07/2023, chị L đi nuôi người bị tai nạn ở Vũng Tàu khoảng trên 10 ngày không thấy về nhà, anh có ra ngoài Vũng Tàu rước về, nhưng chị L không đồng ý về. Từ đó quan hệ vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, có nhiều rạn nứt, nên anh và chị L đã ly thân từ đó cho đến nay. Vì các lý do trên, anh nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục cuộc sống với chị L như thế này được nữa, anh muốn chấm dứt cuộc hôn nhân này để mỗi người có cuộc sống mới tốt hơn, nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Phạm Thị L.
- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, anh và chị L chưa có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Á xác nhận quá trình chung sống giữa anh và chị L không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn chị Phạm Thị L trình bày tại bản tường trình ngày 11/6/2024:
Chị thống nhất lời trình bày của anh Á về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung và mâu thuẫn dẫn đến yêu cầu xin ly hôn giữa vợ chồng anh chị là đúng. Đối với yêu cầu khởi kiện của anh Á, chị có ý kiến như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị đồng ý ly hôn với anh Phan Ngọc Á.
- Về quan hệ con chung: Giữa chị và anh Á chưa có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị và anh Á không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện anh Phan Ngọc Á yêu cầu được ly hôn với chị Phạm Thị L. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn chị Phạm Thị L có nơi cư trú tại ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Phan Ngọc Á, bị đơn chị Phạm Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX có cơ sở xác định: Anh Phan Ngọc Á và chị Phạm Thị L do có người mai mối, sau đó mới tìm hiểu, tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được UBND xã V, huyện T, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 07/2021, ngày 04/02/2021. Như vậy, hôn nhân giữa anh Á và chị L là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu của anh Á về việc xin ly hôn với chị L thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa anh Á và chị L có mâu thuẫn, mà theo anh Á cho rằng chị L đi nuôi bệnh ở Vũng Tàu nhiều ngày, anh đã lên rước về nhưng không chịu về, do vậy tình cảm có nhiều rạn nứt, nên anh Á và chị L đã ly thân từ đó cho đến nay. Anh Á cũng xác định trong thời gian anh và chị L sống ly thân với nhau, thì giữa anh và chị L không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành giải thích pháp luật và động viên để hai bên đoàn tụ gia đình, nhưng anh Á vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với chị L. Đồng thời, chị L cũng có ý kiến đồng ý ly hôn với anh Á.
Từ đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa anh Á và chị L đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc anh Á yêu cầu được ly hôn với chị L là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận cho anh Phan Ngọc Á được ly hôn với chị Phạm Thị L.
[3.2] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, anh Á và chị L thừa nhận chưa có con chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
[3.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Á và chị L thừa nhận giữa anh chị không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, HĐXX không giải quyết.
[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì anh Phan Ngọc Á phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Ngọc Á được ly hôn với chị Phạm Thị L.
- Về quan hệ con chung: Chưa có, nên anh Phan Ngọc Á và chị Phạm Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Phan Ngọc Á và chị Phạm Thị L thừa nhận giữa anh chị không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, HĐXX không giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc anh Phan Ngọc Á phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh Á đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001152 ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Anh Phan Ngọc Á không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Nguyễn Thanh Huy |
Bản án số 93/2024/HNGĐ-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 93/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Ngọc A kiện Phạm Thị L
