TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 93/2025/HSST
Ngày 26/5/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vi Văn Chắt
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Đăng
- Ông Hồ Bá Võ.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Chiến - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Thái Thị Hạnh Tịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Lô Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 27 tháng 8 năm 1980; hộ khẩu thường trú: Bản Đô, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lô Văn T1 (đã chết) và bà Hà Thị P; vợ, con: Chưa có; tiền án: Bản án số: 46/2005/HSST ngày 11/3/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt bị cáo T 36 tháng tù về tội “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia” (khoản 1 Điều 231 Bộ luật Hình sự năm 1999), chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2007 nhưng chưa chấp hành phần dân sự (bồi thường số tiền 3.834.000đ); tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/12/2024 đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T2, sinh năm 1984, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng cuối tháng 11/2024, Lô V đang đi bộ trên đường thuộc bản T, xã M, huyện Q, Nghệ An thì gặp và xin đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết. Trên đường chở T về nhà (bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An), người này giới thiệu tên K ở xã T, huyện Q, Nghệ An. Quá trình nói chuyện, biết K nghiện chất ma túy nên Thơ nói với K khi nào cần mua ma túy thì gặp T bán cho. K đồng ý và hẹn liên hệ sau. Sau đó, K chở T về nhà rồi đi đâu không rõ. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10/12/2024, T đang ở nhà thì K đến nhà hỏi mua 02 (hai) gói ma túy hồng phiến. Thơ báo giá mỗi gói 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng), K đồng ý mua và nói lấy thêm 1.000.000đ (Một triệu đồng) tiền ma túy Heroine. Sau đó K đưa cho T số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng). T cầm tiền và nhờ K chở xuống cầu Máng thuộc bản Thanh Phong 2, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An để đi mua ma túy cho K. Đến nơi, T xuống xe và bảo K đứng chờ, còn T đi vào khu vực khe nước thuộc bản Thanh Phong 2, xã M, huyện Q. Tại đây, T gặp một người đàn ông lạ mặt giới thiệu tên là M (không rõ lai lịch) bán ma túy. Thơ hỏi mua 02 gói ma túy hồng phiến và 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) ma túy Heroine. Người đàn ông tên M đồng ý và báo giá mỗi gói là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng). Thơ đưa cho người này tổng số tiền 6.500.000₫ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) để mua ma túy hồng phiến và ma túy H. M cầm tiền đi khoảng 30 phút sau quay lại đưa cho T 01 (Một) bao ni lông màu đen bên trong có chứa 02 (Hai) gói ma túy hồng phiến và 01 (Một) gói ni lông màu trắng bên trong chứa ma túy Heroin. T cầm số ma túy trên và đi bộ ra cầu Máng sau đó lên xe K đi về nhà. Khi về đến nhà, T và K đi vào nhà bếp để giao nhận ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An và Công an xã C kiểm tra; lợi dụng sơ hở K bỏ chạy còn Lô V bị Công an bắt quả tang, thu giữ số ma túy nói trên và số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
Kết luận giám định số 1001/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 17/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:
- “ - 02 (hai) mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Lô V gửi tới giám định đều la ma túy; đều loại Methamphetamine.
- - Số viên nén màu hồng (02 gói) thu giữ của Lô V có tổng khối lượng là 42,53g (bốn mươi hai phẩy năm mươi ba gam).
- - Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M3) thu giữ của Lô V gửi đến giám định là ma túy loại Heroine (H) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- - Số chất bột màu trắng (01 gói) thu giữ của Lô V có khối lượng là 0,41g (không phẩy bốn mươi mốt gam)”.
* Về thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:
- 42,53 gam ma túy (Methamphetamine), Cơ quan điều tra đã lấy 02 gam gửi giám định, còn lại 40,53gam; 0,41g gam ma túy (H), Cơ quan điều tra đã lấy 0,2 gam gửi giám định, còn lại 0,21gam; 01 (Một) mảnh bao ni lông màu đen; 02 (Hai) mảnh bao ni lông màu xanh; 01 (Một) mảnh bao ni lông màu trắng và các mảnh giấy màu trắng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Tiền Ngân hàng N 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) hiện đang được bảo quản tại Kho bạc Nhà nước tỉnh N.
Tại Bản Cáo trạng số 96/CT-VKSNA-P1 ngày 24 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố Lô V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lô Văn T từ 16 đến 16 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định là 40,53 gam Methamphetamine và 0,21 gam Heroine; tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 1.500.000 đồng tiền Ngân hàng N; tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) mảnh bao ni lông màu đen; 02 (hai) mảnh bao ni lông màu xanh; 01 (một) mảnh bao ni lông màu trắng và các mảnh giấy màu trắng thu giữ của bị cáo Lô Văn T.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và người bào chữa không tranh luận về tội danh và chứng cứ chỉ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng này.
[2]. Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo Lô Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định chất ma túy của Phòng K1 Công an tỉnh N và các tài liệu, chứng cứ được thu thập tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận: Ngày 10/12/2024, tại bản Đô, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An bị cáo Lô Văn T bị bắt quả tang khi đang bán 02 hai gói ma túy hồng phiến khối lượng 42,53gam và một gói ma túy Heroin khối lượng 0,41gam cho một người đàn ông tên K (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 8.000.000 đồng. bị cáo T dùng 6.500.000 đồng mua số ma tuý trên của người đàn ông tên M (không rõ lai lịch, địa chỉ) để bán lại cho K và thu lợi 1.500.000 đồng. Khi đang giao dịch để bán số ma tuý trên cho K thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang; riêng người tên K lợi dụng sơ hở đã bỏ chạy, thu giữ số ma tuý nói trên và số tiền 1.500.000 đồng.
Hội đồng xét xử kết luận hành vi của bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với khối lượng 42,53 gam ma túy (Methamphetamine) và 0,41 gam ma túy (Heroine); tổng khối lượng 02 chất ma túy là 42,94 gam, vi phạm điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án thấy rằng, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên vẫn thực hiện, phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người dân, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác nên cần xét xử nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo là người chủ động liên hệ, trao đổi với người đàn ông tên M để mua ma tuý bán lại cho K kiếm lời. Về tình tiết tăng nặng, ngày 11/3/2005, bị cáo Lô Văn T đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 36 tháng tù về tội “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia” quy định tại khoản 1 Điều 231 Bộ luật Hình sự năm 1999; chấp hành xong hình phạt ngày 29/4/2007 nhưng chưa chấp hành xong về phần dân sự nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó phải áp dụng hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo một thời gian dài mới đủ để răn đe, giáo dục và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét mức hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T không có tài sản, nghề nghiệp; không có thu nhập, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên miễn phạt tiền cho bị cáo.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm h khoản 3; khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lô Văn T 15 (Mười lăm) năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 10 tháng 12 năm 2024. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định thu giữ của Lô V là 40,53 gam Methamphetamine và 0,21 gam Heroine; Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (Một) mảnh bao ni lông màu đen; 02 (Hai) mảnh bao ni lông màu xanh; 01 (Một) mảnh bao ni lông màu trắng và các mảnh giấy màu trắng thu giữ của Lô V.
Đặc điểm, tình trạng các vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 4 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N với Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An.
- + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn) tiền Ngân hàng N thu giữ của Lô V.
Đặc điểm, tình trạng các vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận tài sản ngày 10 tháng 3 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N với Kho bạc Nhà nước tỉnh N.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lô Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án../.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vi Văn Chắt |
Bản án số 93/2025/HSST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 93/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 15 năm 6 tháng tù
