Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:93/2025/HSST

Ngày 20-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Xuân Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Ánh và ông Nguyễn Minh Thắng;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Xuân Thuý Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức N - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 79/2025/HSST ngày 08 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2025/QĐXXST-HS ngày 30/5/025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số: 04/TB-HS ngày 10/6/2025, đối với bị cáo: Nguyễn Thị Thúy H (tên gọi khác: H1), giới tính: Nữ; sinh ngày 27/6/1982 tại Quảng Trị; nơi ĐKHKTT: Khu phố H, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; chỗ ở: Khu phố D, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Nguyễn Đức H2 và bà Hoàng Thị Như Y (đều đã chết); gia đình có 05 chị em, bị cáo là con đầu; có chồng là Lê Đức L (đã ly hôn) và 04 người con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không có.

Về nhân thân: Ngày 02/01/2018, bị Công an P xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” với hình phạt tiền 1.500.000 đồng, đã chấp hành xong ngày 04/01/2018.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên toà.

2. Bị hại:

2.1. Chị Võ Thị T, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

2.2. Chị Nguyễn Thị Thúy L1, sinh năm 1999; Khu phố F, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt;

2.3. Anh Nguyễn N1, sinh năm 1995; địa chỉ: Khu phố F, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị;, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân, nên Nguyễn Thị Thúy H đã nảy sinh ý định đưa ra thông tin gian dối để đặt mua sỉ các mặt hàng ăn uống từ người khác. Sau khi nhận được hàng thì hứa hẹn sẽ trả tiền, nhưng sau đó chiếm đoạt cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 23/11/2024, H thấy tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Hoài Thương (Nem sãi chính gốc)” của chị Võ Thị T đăng bài quảng cáo bán hàng nem chả, khoai deo và trên bài đăng có kèm theo số điện thoại 0912.522.xxx của chị T. H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Bee 3, màu xanh, gắn sim di động số 0945388246 gọi đến số máy trên của chị T, tự giới thiệu tên là H1, hiện ở tại số B Quốc lộ I, phường A, thành phố Đ, muốn đặt mua sỉ hàng nem chả, khoai deo. Cả hai thống nhất kết bạn mạng xã hội Zalo để liên lạc. H sử dụng tài khoản Zalo của mình có tên “Hoa N2” đăng ký bằng số điện thoại 0945.882.xxx, nhắn tin đặt mua của chị T các loại hàng hóa gồm: 22 kg chả heo (giá bán sỉ là 130.000 đồng/01kg), 17kg khoai deo (giá bán sỉ là 130.000 đồng/01kg), 400 cặp nem (giá bán sỉ là 5.000 đồng/01 cặp). Tổng trị giá đơn hàng là 7.070.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 24/11/2024, chị T trực tiếp giao số hàng trên cho H tại khu phố D, phường A, thành phố Đ. Sau khi nhận đủ số hàng đã đặt mua, H nói với chị T là cứ đi về, nhắn tin số tài khoản ngân hàng rồi H sẽ chuyển khoản trả tiền sau. Chị T tin tưởng nên đã đi về và chờ H thanh toán tiền. Sau đó, H đưa số hàng trên đi bán lẻ cho nhiều người (không rõ nhân thân, lai lịch), số tiền có được H đã tiêu xài hết, không trả cho chị T. Chị T liên lạc đòi nhiều lần nhưng H đưa ra nhiều thông tin hứa hẹn, cố tình không trả.

Lần thứ hai: Tiếp tục sử dụng thủ đoạn như trên, trưa ngày 05/12/2024, H thấy tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Thảo Ly” của chị Nguyễn Thị Thúy L1 đăng bài quảng cáo bán sỉ các mặt hàng bánh lọc, bánh nậm, để kèm theo số điện thoại 0389.007.xxx của chị L1. H sử dụng điện thoại di động của mình trực tiếp gọi đến số của chị L1 trao đổi, đặt mua sỉ một số lượng bánh lọc, bánh nậm, gồm: 2500 cái bánh lọc, 500 cái bánh nậm (giá bán sỉ là 2.000 đồng/01 cái bánh lọc; 2.500 đồng/01 cái bánh nậm). Tổng trị giá đơn hàng là 6.250.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 07/12/2024, chị L1 trực tiếp giao số hàng trên cho H tại nhà của H. Sau khi nhận đủ số hàng đã đặt, H hẹn với chị L1 đến ngày 08/12/2024 sẽ trả tiền. Sau đó, H đưa số hàng trên đi bán lẻ cho nhiều người khác (không rõ nhân thân, lai lịch), số tiền bán hàng được H đã tiêu xài hết, không trả cho chị L1. Chị L1 liên lạc đòi nhiều lần nhưng H vẫn cố tình không trả.

Lần thứ ba: Đến ngày 13/12/2024, H thấy tài khoản mạng xã hội Facebook tên “N Khoai Tây” của anh Nguyễn Nhật Đ bài bán hàng chả lụa, chả da, ram tôm và để kèm số điện thoại 0942.567.xxx của anh N1 để liên lạc. H sử dụng điện thoại di động của mình gọi đến số điện thoại của anh N1 để đặt mua sỉ hàng chả lụa, chả da, ram rôm. Cả hai bên thống nhất kết bạn Zalo liên lạc. H sử dụng tài khoản Zalo của mình nhắn tin đặt mua của anh N1 10kg chả lụa, 02kg chả da và 15kg ram tôm (giá bán sỉ là 01kg chả lụa/105.000 đồng/01kg, 01kg chả da/100.000 đồng/01kg, 01kg ram tôm/125.000 đồng/01kg) tổng trị giá đơn hàng là 3.125.000 đồng. Đến sáng ngày 15/12/2024, anh N1 đã giao đủ số hàng trên cho người giao hàng chuyển đến cho H tại nhà của H. Sau khi nhận đủ số hàng H hẹn với anh N1 sẽ chuyển khoản thanh toán vào chiều tối cùng ngày. Sau đó, H đưa số hàng trên đi bán lẻ cho nhiều người (không rõ nhân thân, lai lịch), số tiền có được H đã tiêu xài hết và không trả cho anh N1. Anh N1 đã nhiều lần liên lạc đòi nhưng H vẫn không trả.

Đến ngày 26/12/2024, các bị hại là chị Võ Thị T, chị Nguyễn Thị Thúy L1 và anh Nguyễn Nhật C đến Công an P1, thành phố Đ để tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Thị Thúy H.

Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Bee 3, màu xanh, số IMEI1: 352705113097743, số IMEI2: 352705113097750, bị nứt vỡ màn hình cảm ứng và 01 sim điện thoại di động, mạng Vinaphone, số điện thoại 0945.388.xxx, số seri sim 89840200011604723179, (đều đã qua sử dụng).

Tại Bản Cáo trạng số 84/CT-VKS-ĐH ngày 08 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thúy H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thúy H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy H từ 10 (Mười) đến 12 (Mười hai) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại: Chị Võ Thị T 7.070.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thúy L1: 6.250.000 đồng. Anh N1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu và sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Bee 3, số IMEI1: 352705113097743, số IMEI2: 352705113097750, màu xanh, bị nứt vỡ màn hình cảm ứng và 01 sim điện thoại di động, mạng Vinaphone, số điện thoại 0945.388.xxx, số seri sim 89840200011604723179, (đều đã qua sử dụng).

Bị cáo bào chữa: Bị cáo không có ý kiến bào chữa với bản luận tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo nuôi con nhỏ.

Bị hại tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm minh nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thúy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng đã có đủ cơ sở kết luận: Do có ý thức muốn chiếm đoạt tiền của người khác nên trong thời gian từ ngày 23/11/2024 đến 13/12/2024, Nguyễn Thị Thúy H đã dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin mua sỉ các mặt hàng thức ăn của chị Võ Thị T, chị Nguyễn Thị Thúy L1 và anh Nguyễn N1. Khi bị hại giao hàng, H đưa ra thông tin giả rằng: nhắn tin số tài khoản H sẽ chuyển khoản trả tiền hàng để những người bán hàng tin tưởng giao hàng cho bị cáo. Sau khi nhận được hàng, bị cáo bán hàng và cố tình không trả tiền mua hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chị Võ Thị T, chị Nguyễn Thị Thúy L1 và anh Nguyễn N1 với tổng số tiền là 16.445.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thúy H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều luật quy định khung hình phạt: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 03 năm.

[3] Xét về tính chất hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và tâm lý lo lắng trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là một người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khoẻ nhưng lười lao động, thích hưởng thụ. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử hành chính nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo, sửa chữa bản thân để trở thành con người có ích cho gia đình và xã hội, mà trong một thời gian ngắn bị cáo 03 lần thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm minh với hình phạt tù có thời hạn nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự .

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo bị xử phạt hình phạt tù nên cần phải tiếp tục ban hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh để đảm bảo thi hành án.

[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường lại số tiền bị cáo đã chiếm đoạt, yêu cầu của các bị hại là hợp pháp, có căn cứ nên chấp nhận, Buộc bị cáo phải bồi thường cho: Chị Võ Thị T 7.070.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thúy L1: 6.250.000 đồng. Tại phiên toà, anh Nguyễn N1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét..

Về xử lý vật chứng: Bị cáo dùng điện thoại Vsmart Beer 3, màu xanh, số IMEI1: 352705113097743, số IMEI2: 3352705113097750 và 01 sim điện thoại di động, mạng Vinaphone, số điện thoại 0945.388.xxx làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu và sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thúy H (tên gọi khác: H1) phạm tội “Lừa đảo chiểm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị Thúy H (tên gọi khác: H1): 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585 và khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự, tuyên xử: Buộc bị cáo phải bồi thường cho: Chị Võ Thị T 7.070.000 (Bảy triệu không trăm bảy mươi nghìn) đồng; chị Nguyễn Thị Thúy L1: 6.250.000 (Sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng với số tiền chậm thi hành án, tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Bee 3, màu xanh, số IMEI1: 352705113097743, số IMEI2: 352705113097750, bị nứt vỡ màn hình cảm ứng và 01 sim điện thoại di động, mạng Vinaphone, số điện thoại 0945.388.xxx, số seri sim 89840200011604723179, (đều đã qua sử dụng).

(Vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan Điều tra Công an thành phố Đ ngày 10/6/2025).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử: buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 666.000 000 (Sáu trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND TP Đông Hà;
  • - VP ĐT Công an tỉnh Quảng Trị(PC01);
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Sở tư pháp;
  • - Chi cục THADS TP Đông Hà;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: HS, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Xuân Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2025/HSST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 93/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thuý H- Lừa đảo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger