|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 93/2025/HS-ST Ngày 30-10-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Tài
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Ninh;
- Bà Trần Ánh Nhạn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hoàng Quý, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ng V, sinh năm 2003, tại tỉnh Tây Ninh; Nơi thường trú: KP a, p C, tỉnh B; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: NB Nam; Con ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Như B; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/8/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: 1. Anh Trần Ngọc R, sinh năm 1984; Vắng mặt.
2. Chị Nguyễn Thị F, sinh năm 1984; Vắng mặt.
Cùng trú tại: KP a, p C, tỉnh B.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ánh H, sinh năm 1965. Trú tại: Khu phố V, phường T, tỉnh Tây Ninh; Vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông La Thành N, sinh năm 1979. Trú tại: Ấp B, xã Th, tỉnh Tây Ninh; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 18/6/2025, sau khi uống rượu bia xong, anh Trần Ngọc Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn đỏ - đen - bạc, biển số 70C1-162.51 (là tài sản chung của vợ cLG anh Th và chị Nguyễn Thị Đăng) vào để trước sân nhà của ông Trần Văn Phước thuê tại KP a, p C, tỉnh B và đi về nhà ngủ. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Ng V đi ngang nhà của ông Phước, thấy xe mô tô biển số 70C1-162.51 có cắm sẵn chìa khóa và không có người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp mang cầm cố lấy tiền tiêu xài. Lúc này, NB lén lút bật chìa khóa, khởi động xe và điều khiển đến tiệm cầm đồ “Kim Lan” thuộc ấp Lộc Thạnh, xã Lộc Giang, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay là ấp Lộc Thạnh, xã An Ninh, tỉnh Tây Ninh) do ông La Thành NB làm chủ. Tại đây, NB nói với ông NB là xe mô tô trên được bà nội mua cho, nhưng cần tiền tiêu xài nên muốn cầm cố với số tiền 1.500.000 đồng thì ông NB đồng ý. Đến ngày 19/6/2025, anh Th đến Công an phường An Hòa (nay là Công an phường Trảng Bàng) trình báo sự việc. Khi nghe tin anh Th trình báo Công an, NB kể sự việc trộm cắp xe mô tô của anh Th cho bà Nguyễn Thị Ánh LG (là bà nội của NB) nghe và xin bà LG số tiền 2.000.000 để chuộc lại xe mang về trả cho anh Th thì bà LG đồng ý. Sau đó, bà LG cùng với ông Nguyễn Văn Lịa (là cha ruột của NB) đến gặp ông NB chuộc lại xe mô tô biển số 70C1-162.51 mang về trả cho anh Th. Đến ngày 20/6/2025, NB bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tây Ninh mời về làm việc và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐGTS ngày 25/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Trảng Bàng kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn đỏ - đen - bạc, biển số 70C1-162.51 trị giá 10.166.000 đồng.
Quá trình điều tra, Ng V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. NB phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tác động gia đình chuộc lại xe mô tô biển số 70C1-162.51 về trả cho bị hại để khắc phục hậu quả.
* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tây Ninh đang tạm giữ 01 (một) cái áo sơ mi, dài tay, màu xanh - đen, kích thước (45 x 80)cm; 01 (một) cái nón bảo hiểm, màu đen - bạc; 01 (một) cái quần sọt Jean, màu xanh, kích thước (42 x 55)cm. Hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Tây Ninh thuộc Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh đang tạm giữ.
* Trách nhiệm dân sự: Anh Trần Ngọc Th và chị Nguyễn Thị Kđã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm. Bà Nguyễn Thị Ánh LG không yêu cầu NB trả lại số tiền 2.000.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 53/CT-VKSKV12 ngày 29 tháng 9 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh đã truy tố bị cáo Ng V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh trong phần tranh luận giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ng V phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ng V mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Về bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường. Bà Nguyễn Thị Ánh LG không yêu cầu bị cáo NB trả lại số tiền 2.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin lỗi gia đình bị cáo, xin lỗi gia đình bị hại. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm quay về với gia đình, làm người công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận ngày 18/6/2025 bị cáo NB đã lén lút vào nhà ông Trần Văn Phước tại KP a, p C, tỉnh B lấy trộm 01 xe mô tô mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn đỏ - đen - bạc, biển số 70C1-162.51 là tài sản chung của vợ cLG anh Trần Ngọc Th và chị Nguyễn Thị Ktrị giá 10.166.000 đồng. Hành vi của bị cáo có đủ căn cứ cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
- [3] Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây bất an, lo lắng cho người dân, ảnh hưởng trật tự an toàn xã hội nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
- [4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- [5] Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: 01 (một) cái áo sơ mi, dài tay, màu xanh - đen, kích thước (45 x 80)cm; 01 (một) cái nón bảo hiểm, màu đen - bạc; 01 (một) cái quần sọt Jean, màu xanh, kích thước (42 x 55) cm là tài sản của bị cáo do bị cáo không có nhu cầu nhận lại nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- [7] Về trách nhiệm dân sự: Anh Th, chị Kđã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm; bà LG không yêu cầu bị cáo NB phải trả lại số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng nên cần ghi nhận.
- [8] Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- [9] Đối với ông La Thành NB nhận cầm cố xe mô tô biển số 70C1-162.51 của bị cáo NB nhưng không biết xe mô tô trên do bị cáo NB phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Ng V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Ng V 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/8/2025.
- Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (một) cái áo sơ mi, dài tay, màu xanh - đen, kích thước (45 x 80)cm; 01 (một) cái nón bảo hiểm, màu đen - bạc; 01 (một) cái quần sọt Jean, màu xanh, kích thước (42 x 55) cm.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại (anh Th, chị Đăng) đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Ghi nhận bà LG không yêu cầu bị cáo NB phải trả lại số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng.
- Về án phí: Bị cáo Ng V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại (anh Th, chị Đăng), người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án (bà LG) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Tài |
Bản án số 93/2025/HS-ST ngày 30/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - TÂY NINH về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 93/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 09 THÁNG TÙ VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
