|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 93/2025/HS-ST Ngày 28-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mai
Bà Hà Thị Nga
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2025/TLST- HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 299/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 343/2025/HSST0QĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức T, sinh ngày 05 tháng 12 năm 1990, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số B Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Triệu T1 (đã chết) và bà Đinh Thúy O; bị cáo có vợ Phạm Bích L và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Án số 152/HSST ngày 18/10/2019 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xử 12 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Án số 52/HSST ngày 11/5/2020 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xử 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp 12 tháng tù của Bản án số 152/HSST ngày 18/10/2019 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 27 tháng tù (đã được xóa án); Án số 163/HSST ngày 24/12/2024 Tòa án nhân dân quận Kiến An, Hải Phòng xử 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14/9/2024. Bị cáo đang chấp hành án tại trại giam T4 theo Bản án số 163/HS-ST ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Kiến An; có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Số D Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phạm Văn P, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Số F đường T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Phạm Tiến Đ; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 04/6/2024, Nguyễn Đức T đến quán Internet của anh Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1989 ở số D Miếu H, Dư Hàng K, Lê C, Hải Phòng để chơi điện tử. Lúc này, anh T2 không ở quán mà chỉ có anh Phạm Tiến Đ, sinh năm 1998; trú tại: số G, Kênh D, T, Lê C, Hải Phòng là người được thuê để trông coi quán. T vào chơi điện tử khoảng 10 phút thì hỏi anh Đ cho mượn xe mô tô của anh T2. Do trước đây đã được anh T2 dặn không được cho T mượn xe, nên khi T hỏi mượn xe, anh Đ nói “không biết”. Sau đó anh Đ quay mặt ra ngoài để trông quán. Lợi dụng lúc anh Đ không để ý, T vào bàn máy tính chủ lục tìm và lấy chìa khóa xe mô tô anh T2 để trong hộp sắt rồi đi sang sân nhà số F Miếu H (nơi anh T2 thuê làm chỗ để xe cho khách chơi điện tử ở cạnh quán Internet) mở khóa điều khiển xe mô tô biển số 15B3-756.92 của anh T2 bỏ đi. Sau đó T điều khiển xe đến cửa hàng C1 ở số 33B Chùa Hàng, Hồ N, Lê C, Hải Phòng do anh Phạm Văn P, sinh năm 1980; ĐKHKTT: số 60E/108 đường T, T, L, Hải Phòng làm chủ. Tại đây, T để lại xe mô tô của anh T2 và lấy chiếc điện thoại di động Iphone 12 cầm cố cho anh P trước đó mang đi bán. Sau khi bị mất xe mô tô, anh T2 đã nhiều lần liên lạc yêu cầu T trả xe nhưng không liên lạc được. Ngày 10/6/2024 anh T2 đã đến Công an phường D Kênh trình báo và giao nộp 01 USB ghi lại hình ảnh T đang lục tìm chìa khóa xe tại quán Internet vào trưa 04/6/2024. Anh Phạm Văn P sau khi biết xe mô tô cầm của T là do phạm tội mà có đã đến Công an phường D giao nộp chiếc xe và 01 bản phô tô sổ ghi chép thông tin cầm đồ của cửa hàng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 83/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản quận L kết luận: Giá trị của xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu Honda Airblade mang biển số 15B3-756.92 là 28.700.000 đồng.
Ngày 14/9/2024, Nguyễn Thành T3 bị bắt theo Quyết định truy nã số 1601 ngày 11/9/2024 của Công an quận K về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tại Cơ quan điều tra, ban đầu Nguyễn Đức T khai: T là hàng xóm và hay sang quán Inernet của anh T2 chơi điện tử nên đã mấy lần mượn xe mô tô của anh T2 để đi lại. Khoảng đầu tháng 6/2024, T đến quán của anh T2 chơi điện tử, khi đó chỉ có nhân viên là anh Đ ngồi trông quán. Do thường xuyên mượn xe nên T biết anh T2 hay để chìa khóa trên bàn máy tính chủ, T không nói gì với Đ, tự ý vào lấy chìa khóa rồi sang sân nhà số F Miếu H lấy xe đi. Chiều cùng ngày T điều khiển xe đến cửa hàng cầm đồ của anh P ở số 33B Chùa Hàng, Hồ N, L, Hải Phòng, gửi xe và chìa khóa xe ở đó rồi mượn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 trị giá 5.000.000 đồng để đem bán cho một người không quen biết lấy 5.500.000 đồng hưởng tiền chênh lệch. Ngày hôm sau T đã nhờ một người không quen biết chuyển trả số tiền 5.000.000 đồng vào tài khoản của anh P (T không nhớ số tài khoản của anh P). Sau đó, T gọi điện cho anh T2 nói xe hiện đang gửi ở nhà ông anh, do anh T2 chửi bới nên T bực tức và không liên lạc với anh T2 nữa.
Quá trình điều tra T thay đổi lời khai, T khai: Khoảng đầu tháng 5/2024, anh T2 có nói với T “nếu đi đâu thì lấy xe máy của anh mà đi”. Ngày 04/6/2024 T đến quán Internet của anh T2 chơi điện tử, anh T2 không có ở quán, chỉ có anh Đ trông quán. T hỏi anh Đ cho mượn xe của anh T2 thì anh Đ đưa chìa khóa xe mô tô tận tay cho T.
Anh Nguyễn Thanh T2 khai: Sáng ngày 04/6/2024, anh T2 để xe mô tô biển số 15B3-756.92 ở sân nhà số F Miếu H (nơi anh T2 thuê để trông giữ xe cho khách đến chơi điện tử). Đến 17 giờ cùng ngày, anh T2 được biết T trộm cắp xe mô tô nên đã liên lạc yêu cầu T trả xe, T nói bị Cảnh sát giao thông giữ xe, phải đưa giấy tờ để làm thủ tục lấy lại xe, anh T2 không đồng ý và yêu cầu T trả lại xe. Đến ngày 10/6/2024 không thấy T trả xe nên anh T2 đến Công an phường D Kênh trình báo. Trước đây, anh T2 đã cho T mượn xe mô tô mấy lần, nhưng đều trực tiếp giao chìa khóa và xe cho T. Gần đây anh T2 biết T đã bị đi tù về tội lừa đảo nên anh T2 dặn anh Đ không được cho T mượn xe. Anh T2 chưa bao giờ nói với T về việc “cứ lấy xe của anh mà đi”. Ngày 04/6/2024 T không gặp hay liên lạc với anh T2 hỏi mượn xe mô tô. Anh T2 từ chối đối chất với T và giữ nguyên lời khai.
Anh Phạm Tiến Đ khai: Ngày 04/6/2024, anh Đ làm nhiệm vụ trông coi quán Internet của anh Nguyễn Thanh T2 ở số D Miếu H. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Đức T là khách quen của quán đến chơi điện tử rồi hỏi anh Đ mượn xe của anh T2 đi có việc. Do trước đó anh T2 dặn anh Đ không được cho T mượn xe nên anh Đ trả lời “không biết”, ý anh Đ nói như trên là không biết chìa khóa xe và xe của anh T2 để ở đâu, mục đích để không cho T mượn xe. Sau đó anh Đ ngồi quay mặt ra phía ngoài trông quán, không biết T lấy chìa khóa xe và lấy xe của anh T2 như thế nào. Khoảng 10 phút sau, anh Đ sang nhà số 6/202 Miếu Hai X xếp xe cho khách thì phát hiện xe mô tô của anh T2 không còn. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe quay lại quán, anh Đ đòi xe nhưng T không trả mà mà điều khiển đi tiếp. Khoảng 17 giờ, khi anh T2 về thì anh Đ kể lại sự việc trên. Hiện anh Đ không có mặt ở địa phương nên không tiến hành đối chất được.
Anh Phạm Văn P khai: Anh P là chủ cửa hàng C1. Ngày 28/5/2024 T đến cầm cố cho anh P 01 chiếc điện thoại Iphone 12 với giá 7.000.000 đồng. Khoảng 17 giờ ngày 04/6/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 15B3-756.92 đến cửa hàng và nói là xe của mẹ, muốn để lại cửa hàng và lấy lại chiếc điện thoại. Do là khách quen nên anh P đồng ý. Đến ngày 10/6/2024, anh P được cơ quan Công an thông báo chiếc xe trên là của anh T2 bị mất nên đã mang đến Công an phường D giao nộp xe cùng 01 Sổ ghi chép thông tin cầm đồ của cửa hàng, trong đó có thông tin ngày 28/5/2024 T đến cầm 01 điện thoại di động Iphone 12 với giá 7.000.000 đồng. Anh P không nhận được bất cứ số tiền nào từ T sau ngày 04/6/2024. Anh P từ chối đối chất với T và giữ nguyên lời khai.
Bà Vũ Thị H (là mẹ đẻ anh T2) khai: Nguyễn Đức T là hàng xóm thường xuyên sang quán Internet của T2 chơi điện tử. T2 đã mấy lần cho T mượn xe, nhưng gần đây khi T mượn xe T2 đều từ chối vì biết T không thật thà. Bà H có biết việc T2 dặn Đ không cho T mượn xe. Ngày 04/6/2024, bà H ở quán Internet có nghe thấy T hỏi Đ mượn xe của T2 nhưng Đ trả lời “không biết”.
Mặc dù T thay đổi lời khai, chỉ thừa nhận mượn xe mô tô chứ không chiếm đoạt xe mô tô của anh T2. Nhưng căn cứ lời khai ban đầu của T (phù hợp với lời khai của người bị hại Nguyễn Thanh T2, người làm chứng Phạm Tiến Đ, Vũ Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Văn P, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, hình ảnh camera và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định Nguyễn Đức T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 15B3-756.92 của anh Nguyễn Thanh T2.
Về vật chứng trong vụ án: 01 xe mô tô biển số 15B3-756.92 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Nguyễn Thanh T2 quản lý, sử dụng; 01 USB và 01 bản phô tô sổ ghi chép thông tin cầm đồ chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Anh T2 đã nhận lại xe mô tô, không có yều cầu gì khác. Anh P không yêu cầu T phải bồi thường dân sự.
Đối với anh Phạm Văn P do không biết xe mô tô biển số 15B3-756.92 do Nguyễn Đức T phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 56/CT-VKSLC ngày 21/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 15B3-756.92 trị giá 28.700.000 đồng của anh Nguyễn Thanh T2 vào ngày 04/6/2024 tại nhà số F Miếu H, phường D, quận L, Hải Phòng. Bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa đã được chủ tọa công bố các bản khai thể hiện bị hại đã được nhận lại 01 xe mô tô biển số 15B3-756.92 và không có yêu cầu gì khác. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự: Bị hại đã được trả lại 01 xe mô tô biển số 15B3-756.92, không có yêu cầu gì khác. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền cầm điện thoại 7.000.000 đồng nên không xem xét. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tội danh:
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩ vụ liên quan, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Đức T lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 15B3-756.92 trị giá 28.700.000 đồng của anh Nguyễn Thanh T2 vào ngày 04/6/2024 tại nhà số F Miếu H, phường D, quận L, Hải Phòng. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo có 03 tiền án số 152/HSST ngày 18/10/2019 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xử 12 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Án số 52/HSST ngày 11/5/2020 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xử 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp 12 tháng tù của Bản án số 152/HSST ngày 18/10/2019 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 27 tháng tù đã được xóa án; Án số 163/HSST ngày 24/12/2024 Tòa án nhân dân quận Kiến An, Hải Phòng xử 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này (ngày 04/6/2024) bị cáo chưa bị kết án về hành vi bị cáo phạm tội ngày 11/9/2019 trên địa bàn quận K nên không tính là Tái phạm nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Việc đưa bị cáo ra xét xử trước pháp luật là cần thiết để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng:
[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ:
[6] Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
- Về hình phạt:
[7] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn và trên mức khởi điểm của khung hình phạt để cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Việc bồi thường thiệt hại:
[9] Bị hại đã được trả lại 01 xe mô tô biển số 15B3-756.92, không có yêu cầu gì khác và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền cầm điện thoại 7.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
[10] Cần tổng hợp hình phạt của bản án số 163 ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, Hải Phòng theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
- Về án phí:
[11] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[12] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 15 (mười lăm) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Bản án số 163/2024/HS-ST ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, Hải Phòng, buộc bị cáo phải chấp hình phạt chung của hai bản án là 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ của Bản án số 163/HSST ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, Hải Phòng ngày 14/9/2024.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đức T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình về bồi thường thiệt hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hương |
Bản án số 93/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 93/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T trộm cắp tái sản
