Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 93/2025/HS-ST

Ngày: 04/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Phạm Văn Hoa;
  • - Bà Nguyễn Thị Nhơn.

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Bá Thứ – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh L - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXX-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Bùi Quang H, sinh năm: 2006 tại: Tỉnh An Giang; Hộ khẩu thường trú: Khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang; Nơi ở hiện tại: Nhà số H đường N, Khu phố D, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Bùi Quang T, sinh năm 1981 và bà Trương Thị M, sinh năm 1987; Gia đình có 02 chị em, bị can là con cả trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/12/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Võ Thị C: Vắng mặt

Địa chỉ: P Lầu C, nhà trọ số H N, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Đỗ Thị Huỳnh N: Vắng mặt.
  • Địa chỉ: C L, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • + Ông Trịnh Tấn P: Vắng mặt.
  • Địa chỉ: Số H N, Khu phố D, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Quang H thuê nhà trọ tại phòng số 3, lầu C, nhà số H đường N, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 10/12/2024, H phát hiện Phòng trọ số 8 do chị Võ Thị C (Sinh năm 1988, Hộ khẩu thường trú: tỉnh Bình Định) đang thuê trọ quên đóng cửa sổ dạng lùa hai cánh nên H nảy sinh ý định vào tìm được đồ gì có giá trị thì lấy để kiếm tiền tiêu xài. H đến lấy bình chữa cháy để ở vách Phòng đối diện Phòng trọ số 8, kéo vào đặt dưới vị trí cửa sổ của Phòng số 8 để làm bệ rồi trèo lên đứng từ bên ngoài chồm người vào quan sát thì thấy bên trong không có người. H chui vào bên trong Phòng thì phát hiện trong rổ để đồ cá nhân ở dưới kệ sát cửa ra vào có 01 bóp nữ màu vàng. H mở chiếc bóp nữ trên ra thì phát hiện trong bóp có 04 tờ tiền USD mệnh giá 100 USD (không rõ seri) cùng một số tiền lẻ và giấy tờ tùy thân. Một chiếc hộp nhựa tròn màu đỏ hồng bên trong có 02 chiếc nhẫn kim loại màu vàng, phía trên có đính nhiều hạt đá trắng. H lấy 400 USD và chiếc hộp giấy bên trong có 02 chiếc nhẫn bỏ túi quần bên phải cất giấu sau đó H mở cửa chính đi ra và trở về phòng số 3.

Sau khi đã lấy trộm được các tài sản trên, khoảng 10 giờ 30 sáng cùng ngày, H đem 02 chiếc nhẫn và 400 USD đến tiệm V, địa chỉ: số H đường N, Phường F, quận B, TP . bán cho Từ Chí Â (Sinh năm 1973, Hộ khẩu thường trú: H N, Phường F, quận B, TP .) là chủ tiệm vàng C1. H nói với người mua nhẫn và D đó là tài sản của H tặng bạn gái khi chia tay lấy lại đem bán. Trên đường đi H đã vứt bỏ hộp nhựa đựng 02 chiếc nhẫn (H không nhớ đã vứt bỏ ở đoạn đường nào). H bán 400 USD được số tiền 9.600.000 đồng và 02 nhẫn vàng được số tiền 2.000.000 đồng

(Tổng cộng được 11.600.000 đồng).Sau đó, khoảng 12 giờ 00 phút, H đến cửa hàng N1 số H Q, Phường H, quận G mua 01 điện thoại Iphone XS 64GB và thay pin tổng cộng hết 5.250.000 đồng (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) và tiếp đó đến khoảng 14 giờ cùng ngày, H đã chuyển cho bạn gái H là Đỗ Thị Huỳnh N (Sinh năm 2006, Hộ khẩu thường trú: V, V, C, An Giang) số tiền 5.000.000 đồng để trả nợ tiền trước đó H mượn. H nói với Như tiền trên H lãnh lương được và trả nợ. Còn lại số tiền 1.350.000 đồng H đã tiêu xài, ăn uống cá nhân hết.

Đến ngày 11/12/2024, H bị chị Võ Thị C và anh P – Quản lý nhà trọ phát hiện thì H không còn tiền để trả lại và hứa hẹn nhưng không thực hiện được nên chị C đã trình báo Công an P1, quận B để giải quyết.

Tại cơ quan Công an, bị can Bùi Quang H đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp nêu trên để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị can thực hiện hành vi phạm tội một mình, không có đồng phạm.

Lời khai của bị can H phù hợp với lời khai của bị hại Võ Thị C, phù hợp với lời khai của những người liên quan, phù hợp với dữ liệu hình ảnh camera.

Kết luận định giá tài sản số 368/KLĐGTS-TCKH ngày 25/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận B thì tại thời điểm ngày 10/12/2024, 01 (một) nhẫn vàng, nhẫn mo hạt kết, loại vàng 610, trọng lượng luôn hột là 3 phân 35 (trọng lượng vàng là 02 phân 35, trọng lượng hột là 01 phân 00) có giá trị 1.198.500 đồng; 01 (một) nhẫn vàng, mẫu nhẫn 4 chấu hột trắng, hột chìm, loại vàng 610, trọng lượng luôn hột là 5 phần 30 (trọng lượng vàng là 04 phân 33, trọng lượng hột là 01 phân 00) có giá trị 2.193.000 đồng; 400 USD (Bốn trăm đô la Mỹ) có giá 10.120.000 đồng.

Thu giữ, xử lý vật chứng:

  • + 01 (một) nhẫn vàng, nhẫn mo hạt kết, loại vàng 610, trọng lượng luôn hột là 3 phân 35 (trọng lượng vàng là 02 phân 35, trọng lượng hột là 01 phân 00); 01 (một) nhẫn vàng, mẫu nhẫn 4 chấu hột trắng, hột chìm, loại vàng 610, trọng lượng luôn hột là 5 phân 30 (trọng lượng vàng là 04 phân 33, trọng lượng hột là 01 phân 00); 04 (Bốn) tờ tiền mệnh giá 100 USD (Một trăm đô la Mỹ). Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chị Võ Thị C.
  • + 01 (một) quần ngắn, màu trắng.
  • + 01 (một) điện thoại Iphone XS màu trắng 64GB, IMEI: 35 723809 2797658.
  • + Số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Đối với Từ Chí Â có hành vi mua 400 USD của bị can H mà không được phép thu đổi ngoại tệ đã vi phạm quy định về hoạt động ngoại hối. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị định 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.

Tại Cáo trạng số 118/CT-VKSBTh ngày 13 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Bùi Quang H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Quang H từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm Sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm Sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận: Bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt:

  • + 01 (một) nhẫn vàng, nhẫn mo hạt kết, loại vàng 610, trọng lượng luôn hột là 3 phân 35 (trọng lượng vàng là 02 phân 35, trọng lượng hột là 01 phân 00);
  • + 01 (một) nhẫn vàng, mẫu nhẫn 4 chấu hột trắng, hột chìm, loại vàng 610, trọng lượng luôn hột là 5 phân 30 (trọng lượng vàng là 04 phân 33, trọng lượng hột là 01 phân 00);
  • + 04 (Bốn) tờ tiền mệnh giá 100 USD (Một trăm đô la Mỹ). Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 13.511.500 đồng

nên đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân và gây mất trật tự, an toàn xã hội. Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.

Đối với Từ Chí Â có hành vi mua 400 USD của bị cáo H mà không được phép thu đổi ngoại tệ đã vi phạm quy định về hoạt động ngoại hối. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị định 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Võ Thị C đã nhận tài sản nên không có yêu cầu dân sự.

Ông Từ Chí  yêu cầu bị cáo trả lại cho ông  số tiền 11.600.000 đồng và tại phiên tòa bị cáo cũng tự nguyện trả lại cho ông  số tiền nêu trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • + 01 (một) quần ngắn, màu trắng là vật liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
  • + 01 (một) điện thoại Iphone XS màu trắng, là điện thoại bị cáo mua từ tiền trộm cắp mà có nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
  • - Số tiền 5.000.000 đồng chị Đỗ Thị Huỳnh N giao nộp là vật liên quan đến vụ án nên Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Số tiền 1.350.000 đồng là số tiền bán tài sản trộm cắp mà có, bị cáo đã tiêu xài hết nên buộc bị cáo phải nộp lại số tiền này vào ngân sách Nhà Nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Xử phạt bị cáo Bùi Quang H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2024
  • Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Bùi Quang H phải trả cho ông Từ Chí Â số tiền 11.600.000 đồng.
  • Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  • Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015
  • Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) quần ngắn, màu trắng;
  • + Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại Iphone XS màu trắng.
  • (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh và cơ quan Cảnh sát Điều tra công an quận B).
  • - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) được tạm giữ tại Kho bạc nhà nước quận B theo Giấy nộp tiền ngày 27/02/2025 của công an quận B tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2.
  • - Buộc bị cáo Bùi Quang H phải nộp 1.350.000 đồng vào ngân sách Nhà Nước.
  • Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
  • Bị cáo Bùi Quang H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
  • Bị cáo Bùi Quang H phải chịu 580.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q.Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Công an Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Chi cục THA dân sự Q. Bình Thạnh;
  • - Lưu: VP, HS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Linh Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2025/HS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 93/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Quang Hiếu - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger