Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2025/HS-PT

Ngày 19/02/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Đinh Thị Thu Hường
Các Thẩm phán:Ông Mai Văn Quang
Bà Nguyễn Thị Trâm Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 1140/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nghiêm Thị P, Nguyễn Tuấn A do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 174/2024/HS-ST ngày 24.9.2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Các bị cáo kháng cáo:

  1. Nghiêm Thị P, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Căn hộ A, Tòa R, khu đô thị V, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nghiêm Viết V, sinh năm 1965 và bà Nghiêm Thị T, sinh năm 1967; Chồng: Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1992 (là bị cáo trong vụ án); Con: Có 01 con, sinh năm: 2021; Tiền án, tiền sự: Không có. Tạm giữ từ ngày 12/4/2024 đến ngày 21/4/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1999 tại Hưng Yên. Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Xóm F, thôn V, xã T, huyện P, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức B, sinh năm 1973 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1979; Vợ: Lê Thị Quỳnh N; Con: có 01 con sinh năm 2022; Tiền án: Bản án số 14/2015/HSST ngày 25/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên xử phạt Nguyễn Tuấn A 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng (phạm tội khi 16 tuổi 15 ngày). Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 226/QĐ-XPHC ngày 27/10/2017 của Công an thành phố H, tỉnh Hưng Yên phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác (đã nộp tiền phạt). Bị cáo bị bắt khẩn cấp. Tạm giữ từ ngày 12/4/2024 đến ngày 29/5/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nghiêm Thị T- sinh năm 1967, trú tại: Số C Đ, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt);

  2. Chị Lê Thị Quỳnh N, sinh năm: 1994; trú tại: thôn C, xã C, huyện T, Thành Phố Hà Nội (vắng mặt);

  3. Chị Trần Thị N1, sinh năm: 1998; trú tại: thôn V, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt);

  4. Anh Nguyễn Đắc T2, sinh năm: 1992; trú tại: thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt);

  5. Chị Dương Thị Quỳnh T3, sinh năm: 1998; trú tại: thôn C, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt);

  6. Chị Vũ Minh T4, sinh năm: 1995; Hộ khẩu thường trú: thôn H, xã L, huyện K, Hải Dương; Nơi ở: Số D P, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt);

  7. Anh Phạm Gia T5, sinh năm: 1997; trú tại: thôn L, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt);

  8. Chị Nguyễn Thị M, sinh năm: 1993; HKTT: thôn H, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nơi ở: số I, đường số C, Như Quỳnh C, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt);

  9. Anh Phạm Gia T6, sinh năm: 1997; trú tại: : Xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên; nơi ở: Căn hộ S Vinhomes OceanPark, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội (vắng mặt);

  10. Chị Vũ Thị Diễm M1, sinh năm: 1997; trú tại: Đ, H, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên(vắng mặt).

Trong vụ án còn có 02 bị cáo Nguyễn Thanh T1 và Hoàng Bảo L không kháng cáo và không bị kháng nghị nên tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 ngày 10/4/2024, Nguyễn Thanh T1 cùng vợ là Nghiêm Thị P, Nguyễn Tuấn A và vợ là Lê Thị Quỳnh N, Vũ Minh T4, Hoàng Bảo L, Phạm Gia T6, Phạm Gia T5, Vũ Thị Diễm M1, Dương Thị Quỳnh T3, Nguyễn Thị M, Trần Thị N1, Nguyễn Đắc T2 ngồi ăn uống cùng nhau tại quán Bia “Khét” ở số A phố T, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội. Trong lúc ăn uống, Nguyễn Thanh T1 thấy L và T6 nói chuyện với nhau nên T1 nghĩ L và T6 nói về việc sẽ sử dụng chất ma túy. Đến 23 giờ 30 phút, khi T1 đứng dậy đi về, T6 hỏi “Anh đi về đâu”, T1 trả lời “Anh đi về nhà anh” có nghĩa T1 rủ mọi người về nhà T1 sử dụng ma túy. Hoàng Bảo L thấy T1 rủ về nhà T1 để sử dụng ma túy thì L sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook

“Long Hoàng” của L liên hệ với tài khoản Facebook là “Lê Minh Q” để hỏi mua 06 chỉ ma túy “Ke”, 05 viên ma túy “Kẹo” và 01 gói ma túy “Nước vui”. Q thỏa thuận bán ma túy với giá 9.750.000 đồng. L đồng ý mua, Q hẹn L giao ma túy tại khu vực sảnh tòa S207 khu đô thị V, Đ, G, Hà Nội. Sau đó, L điều khiển xe ôtô MAZDA màu trắng BKS 89A-375.98 của Nguyễn Thị M chở M và Trần Thị N1 đi đến sảnh tòa nhà S207. Tại đây, L gặp một nam thanh niên không quen biết đeo khẩu trang bán cho L 01 túi nilông màu trắng bên trong có ma túy “Ke, K và Nước vui”, L cầm túi ma cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc và nói sẽ chuyển khoản thanh toán tiền mua ma túy sau, người bán ma túy đồng ý. Lúc này, Nguyễn Thanh T1 điều khiển xe ô tô chở P cùng N, T3 đi về nhà T1 ở căn hộ A tòa R khu đô thị V, thị trấn T, G. T6 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA K5, màu trắng, BKS 89A-371.82 của M1 chở M1, T2, G, Tuấn A. Sau đó, T6 và L liên lạc với nhau, L bảo T6 đến sảnh tòa nhà S khu đô thị V. Khi đến nơi, Tuấn A xuống xe gặp L, L đưa túi ma túy vừa mua được cho Tuấn A nói “cầm hộ tao túi đồ, tao sợ”, Tuấn A hiểu L bảo Tuấn A cầm ma túy đến nhà của T1 để mọi người cùng sử dụng nên Tuấn A đồng ý cầm túi ma túy cất giấu vào túi quần bên phía trước bên phải của Tuấn A đang mặc và lên xe ô tô đi về căn hộ của Nguyễn Thanh T1. Tại căn hộ A tòa R, Nguyễn Thanh T1 lấy loa và bật đèn nháy trong phòng ngủ phục vụ việc sử dụng ma túy, 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng để lên giường trong phòng ngủ, 02 ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 thẻ hình chữ nhật màu đen có chữ Gucci. Khi Tuấn A đến căn hộ A tòa R thì đưa lại gói ma túy cho L. L cầm túi ma túy để lên giường trong phòng ngủ của T1 để mọi người cùng nhau sử dụng. L lấy túi ma túy “kẹo” bên trong chứa các viên nén màu ghi xám đưa cho mọi người sử dụng, L, T1, P mỗi người sử dụng 01 viên ma túy “kẹo”. Tuấn A sử dụng một mảnh ma túy “kẹo” và bẻ một mảnh đưa cho N sử dụng. T3, M mỗi người sử dụng một mảnh ma túy “kẹo”. Khoảng 00 giờ 18 phút ngày 11/4/2024, P gọi điện cho Minh T4 đến căn hộ A tòa R103 của P chơi, Minh T4 hiểu là đến sử dụng ma túy nên đồng ý. Minh T4 gọi điện cho Tuấn A xuống sảnh tòa nhà R103 đón lên căn hộ A tòa R cùng sử dụng ma túy. Trong quá trình sử dụng ma túy, L đổ ma túy Ketamine ra một đĩa sứ màu trắng, sử dụng khò làm nóng đĩa, dùng thẻ cứng để “xào”, nghiền nhỏ ma túy để T1, T2, P, L, Tuấn A, T6, Minh T4, Gia T5, N, Mơ sử dụng bằng hình thức hít qua tẩu quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng. T1 pha ma túy “nước vui” bên trong 01 túi ni lông có chữ CHALI vào một bát sứ màu trắng đưa cho L để N, M1, N1, P, Minh T4 cùng nhau sử dụng. Ngoài ra, Minh T4 còn được P đưa cho một mảnh ma túy “kẹo” để sử dụng. Quá trình ở căn hộ 1206 tòa R103, L hỏi vay Mi 10.000.000 đồng, M1 đồng ý chuyển khoản cho L. Sau đó, L chuyển số tiền 9.750.000 đồng đến tài khoản 18109688888 ngân hàng M2 mang tên LE MINH QUAN để trả tiền mua ma túy. Khi sử dụng ma túy, N nói với L về việc sử dụng ma túy “nước vui” không kích thích nên L tiếp

tục gọi Lê Minh Q qua mạng xã hội Facebook hỏi mua thêm 02 viên ma túy “kẹo” thì Q đồng ý mang 02 viên ma túy “kẹo” cho L không lấy tiền. L bảo T1 xuống sảnh tòa nhà R103 cầm 02 viên ma túy “kẹo” lên đưa cho L. L sử dụng 01 viên ma túy “kẹo” và đưa 01 viên ma túy “kẹo” cho N, tuy nhiên N không sử dụng mà vứt vào bồn cầu nhà vệ sinh, xả nước. Đến khoảng 3 giờ cùng ngày, L bảo T1 mua thêm ma túy “nước vui” loại Ferrari thì T1 đồng ý và gọi qua ứng dụng T7 hỏi mua ma túy “nước vui” của một đối tượng không rõ nhân thân với giá 3.000.000 đồng, L chuyển khoản 2.500.000 đồng cho T1 để mua ma túy “nước vui”. Sau đó, T1 xuống sảnh tòa nhà R103 nhận 02 túi ni lông màu đỏ bên trên có chữ Ferrari là ma túy “nước vui” của một nam thanh niên không rõ nhân thân và trả 3.000.000 đồng tiền mặt, T1 mang lên phòng đưa 01 túi cho L còn 01 túi để trên bàn trong phòng khách. L pha ma túy “nước vui” với nước ngọt Sting để mọi người sử dụng. Khoảng 4 giờ cùng ngày, T1 lấy 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, 01 thẻ ngân hàng của P, đổ tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông màu đỏ dưới sàn nhà ra để “xào” và sử dụng tiếp 02 đường ma túy “ke”. Trong khi tất cả mọi người đang sử dụng ma túy “Ke, K, Nước vui” và nghe nhạc đến khoảng 6 giờ 15 phút ngày 11/4/2024 thì bị Cơ quan Công an vào kiểm tra, thu giữ các vật chứng như đã nêu trên. Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Thanh T1, Nghiêm Thị P, Hoàng Bảo L, Nguyễn Tuấn A thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng thu giữ tại căn hộ 1206:

  • 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng có dính tinh thể màu trắng (đĩa sứ có đường kính 26,5cm);

  • 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng có đường kính 22,1cm, trên bề mặt có dính tinh thể màu trắng. Tinh thể màu trắng được cho vào 01 túi ni lông màu trắng có kích thước 4,8x7cm;

  • 01 túi ni lông màu đỏ bên trong có chứa tinh thể màu trắng kích thước 4x6cm;

  • 01 ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền polymel mệnh giá 10.000 đồng, ở hai đầu được cuốn đầu lọc thuốc lá T, có dính tinh thể màu trắng;

  • 01 ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, ở giữa được buộc dây chun màu đen, có dính tinh thể màu trắng;

  • 01 thẻ ngân hàng V1 có tên Nghiêm Thị P, bên trên có dính tinh thể màu trắng;

  • 01 thẻ hình chữ nhận màu đen có chữ “Gucci”, bên trên có dính tinh thể màu trắng;

  • 01 gói ni lông màu đỏ, bên trên có chữ Ferrari, có kích thước 6x9cm;

  • 01 vỏ gói ni lông màu cam, bên trên có chữ “CHALI”;

  • 01 vỏ gói ni lông màu đỏ, bên trên có chữ “Ferrari”, có kích thước 6x9cm;

  • 01 vỏ lon nước Redbull vàng;

  • 01 vỏ lon nước Sting đỏ;

  • 01 bát sứ màu trắng đường kính 20cm bên trong có chứa nước màu vàng. Dung dịch nước màu vàng sau đó được cho vào 01 vỏ chai nước Lavie;

  • 01 bình thủy tinh hình trụ, cao 40cm, bên trong có chứa nước màu đỏ. Dung dịch nước màu đỏ sau đó được cho vào 01 vỏ chai nước lavie;

  • 01 bình ga mini có chữ “NaMilux” được gắn 01 đầu khò.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Thanh T1:

  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xám, bên trong có lắp thẻ sim 0916652222, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy;

  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max màu vàng hồng, bên trong có lắp thẻ sim 0856233456, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy.

Vật chứng thu giữ của Nghiêm Thị P:

  • 01 chiếc đèn màu đen kiểu dáng tròn, có chân đế, đã cũ, qua sử dụng;

  • 01 chiếc đèn nháy màu đen đã cũ, qua sử dụng;

  • 01 chiếc đèn nháy màu đen, đã cũ, qua sử dụng;

  • 01 chiếc đèn nháy màu đen, đã cũ, qua sử dụng;

  • 01 chiếc loa màu trắng đã cũ, qua sử dụng;

  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu ghi, bên trong lắp sim số 0392597777, đã cũ qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong;

  • 01 xe ô tô nhãn hiệu Merc C300 AMG, màu trắng, BKS: 30K-841.87 có số khung: RLMWF8DX0KV007505, số máy: 26492030229911, cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng xe.

Vật chứng thu giữ của Hoàng Bảo L:

  • 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 15 Promax, màu ghi xám, có số máy MU793VN/A, lắp sim liên lạc số 0915.282.xxx, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Tuấn A:

  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, số IMEI1 351914966567825, IMEI2 351914965986422, cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy. Trong máy có gắn thẻ sim 0918615555 và 0352852345.

  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max màu vàng hồng đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong. Số IMEI1 353104102964403, số IMEI2 353104102882076. Trong máy có gắn thẻ sim 0797938386 của Nguyễn Tuấn A sử dụng.

Vật chứng thu giữ của Phạm Gia T6:

  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu ghi, dung lượng 256GB, có số IMEI 354009440969858 bên trong có lắp thẻ sim 0978501111, máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy.

  • 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA K5, màu trắng, BKS 89A-371.82 có số khung RNYGB44A6PC290358, số máy G4NANH619176, cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng xe.

Vật chứng thu giữ của Trần Thị N1:

  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xám, bên trong có lắp thẻ sim 0965342996. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Thị M:

  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu trắng sữa, bên trong có lắp thẻ sim 0974800456. Máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy.

  • 01 chiếc xe ô tô kiểu dáng MAZDA màu trắng, BKS 89A-375.98, số khung RN2BN4AA6LM029699, số máy P520634753, cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong.

Vật chứng thu giữ của Dương Thị Quỳnh T3:

  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu trắng, bên trong có lắp thẻ sim 0986333596, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy.

Vật chứng thu giữ của Vũ Minh T4:

  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu xám, bên trong có lắp thẻ sim 0564695999, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy.

Vật chứng thu giữ của Vũ Thị Diễm M1:

  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xám, bên trong có lắp thẻ sim 0349609999, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy.

Vật chứng thu giữ của Phạm Gia T5:

  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xám, bên trong có lắp thẻ sim 0837899997, máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy.

Vật chứng thu giữ của Lê Thị Quỳnh N:

  • 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax, màu tím, lắp sim liên lạc số 0988.279.xxx, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Đắc T2:

  • 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 14 Promax, vỏ mặt lưng màu vàng nhạt, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim điện thoại có số thuê bao 0942753883.

Ngày 12/4/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện G đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thanh T1 và Nghiêm Thị P tại căn hộ A tòa R khu đô thị V, TT T, G, Hà Nội. Quá trình khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 2829/KL-KTHS ngày 20/4/2024 của Phòng K2 - Công an thành phố H kết luận:

  • Tinh thể màu trắng (thu trên bề mặt 01 đĩa sứ màu trắng) bên trong 01 túi ni lông màu trắng là ma túy loại Ketamine khối lượng 0,102 gam;

  • Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông màu đỏ là ma túy loại Ketamine khối lượng 4,095 gam;

  • 02 đĩa sứ, 02 ống hút đều được cuộn tròn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 VNĐ, 01 thẻ ngân hàng V1 có tên Nghiêm Thị P, 01 thẻ hình chữ nhật màu đen có chữ Gucci đều có dính ma túy loại Ketamine;

  • Chất bột màu cam bên trong 01 gói ni lông màu đỏ, bên trên có chữ “Ferrari” có ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 4,485 gam;

  • 01 vỏ gói ni lông màu đỏ bên trên có chữ “CHALI” có dính ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA và N2;

  • 01 vỏ gói ni lông màu đỏ, bên trên có chữ “Ferrari” có dính ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại 2C-b, ma túy loại Ketamine và N2;

  • 01 vỏ lon nước Redbull màu vàng không dính chất ma túy;

  • 01 vỏ lon nước Sting màu đỏ không dính chất ma túy;

  • Dung dịch màu vàng bên trong 01 chai Lavie (dung dịch được thu trong 01 bát sứ màu trắng) có ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA, ma túy loại Ketamine và N2, thể tích: 120ml;

  • Dung dịch màu đỏ bên trong 01 chai Laive (dung dịch được thu trong 01 bình thủy tinh hình trụ) có ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA, ma túy loại 2C-B, ma túy loại Ketamine và N2, thể tích: 230ml.

  • Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Thanh T1, Nghiêm Thị P, Hoàng Bảo L, Trần Thị N1, Nguyễn Thị M, Nguyễn Đức T8, Phạm Gia T6, Phạm Gia T5, Vũ Thị Diễm M1, Vũ Minh T4 gửi giám định ngày 11/4/2024 đều có tìm thấy ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA và ma túy loại Ketamine.

- Trong mẫu nước tiểu của Lê Thị Quỳnh N và Dương Thị Quỳnh T3 gửi giám định ngày 11/4/2024 có tìm thấy ma túy loại Methamphetamine và ma túy loại MDMA.

Đối với Vũ Thị Diễm M1 chuyển khoản số tiền 10.000.000 đồng cho Hoàng Bảo L vay để L trả tiền mua ma túy, khi cho vay, M1 không biết mục đích vay tiên của L đê mua ma túy nên không đồng phạm với Hoàng Bảo L về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Phạm Gia T6 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA K5 màu trắng BKS 89A-371.82 của Vũ Thị Diễm M1 chở M1, Tuấn A, G, T8 từ quán bia đên căn hộ 1206 tòa R103 của Nguyễn Thanh T1 thì T6, M1 đều không biêt mục đích mọi người đi cùng trên xe đến nhà T1 để làm gì, không biết Tuấn A cầm túi ma túy của Hoàng Bảo L nên T6, M1 không đồng phạm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, T6, M1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại căn hộ A tòa R khu đô thị V, nên ngày 08/8/2024, Công an huyện G đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Phạm Gia T6, Vũ Thị Diễm M1.

Đối với Nguyễn Thị M đưa xe ô tô kiểu dáng Mazda màu trắng BKS 89A- 375.98 của M cho Hoàng Bảo L điều khiển để L chở M, N1 do M uống bia rượu say nên nhờ L điều khiến xe ô tô đến căn hộ của L và N1 ở tòa S khu đô thị V, Đ, G để nghỉ ngơi, sau đó, Mơ được mọi người rủ đến căn hộ C tòa R của T1 chơi nên M đồng ý đi. Bản thân Mơ không biết việc L đến khu vực sảnh tòa nhà S207 để mua ma túy, không biết mọi người đến nhà T9 để sử dụng trái phép chất ma túy.

Tuy nhiên, M có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại căn hộ 1206 tòa R103 nên ngày 08/8/2024, Công an huyện G đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thị M.

Đối với Lê Thị Quỳnh N, Trần Thị N1, Dương Thị Quỳnh T3, Vũ Minh T4, Nguyễn Đắc T2 và Phạm Gia T5 không tham gia bàn bạc, góp tiền để mua ma túy nhưng có hành vi sử dụng trái phép ma túy tại căn hộ A tòa R khu đô thị V, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội nên ngày 08/8/2024, Công an huyện G đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Lê Thị Quỳnh N, Trần Thị N1, Dương Thị Quỳnh T3, Vũ Minh T4, Nguyễn Đắc T2 và Phạm Gia T5.

Qua xác minh xác định: anh Lê Minh Q, sinh năm: 1996, nơi thường trú: xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên là người đứng tên tài khoản ngân hàng số 18109688888 của ngân hàng M3. Hiện Cơ quan CSĐT - Công an huyện G vẫn chưa làm việc được với anh Lê Minh Q có thông tin như trên. Cơ quan CSĐT - Công an huyện G đã ra Quyết định tách hành vi, tài liệu liên quan đến người đàn ông sử dụng Facebook tên "Lê Minh Q"' và tài khoản ngân hàng 18109688888 bán ma túy cho Hoàng Bảo L ngày 10/04/2024 để tiếp tục xác minh, làm rõ.

Bản cáo trạng số 161/CT-VKSGL, ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố các bị cáo: Nguyễn Thanh T1, Nghiêm Thị P, Hoàng Bảo L và Nguyễn Tuấn A phạm Tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định điểm b tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại bản án số 174/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm đã xử: Tuyên bố các bị cáo Nghiêm Thị P, Nguyễn Tuấn A phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nghiêm Thị P 05 năm tù, hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 12/4/2024 đến ngày 21/4/2024.

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 05 năm tù, hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam, tạm giữ từ ngày 12/4/2024 đến ngày 29/5/2024.

  • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/10/2024 bị cáo Nghiêm Thị P và bị cáo Nguyễn Tuấn A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Tuấn A có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nghiêm Thị P giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết.

Tại phiên tòa: bị cáo P đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hiện nay chồng bị cáo đã bị bắt, con bị cáo còn nhỏ không có ai chăm sóc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa, sau khi xem xét kháng cáo của bị cáo, đề nghị:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Về nội dung: Bản án sơ thẩm kết án bị cáo về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt của bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 05 năm tù là nghiêm khắc với mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm: xử phạt bị cáo mức án từ 04 năm 03 tháng đến 04 năm 09 tháng tù. Bị cáo không phải nộp án phí phúc thẩm. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Tuấn A. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo P đúng về chủ thể kháng cáo, nộp trong thời hạn luật định nên được giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

  2. Về nội dung: Theo lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ 30 ngày 10/4/2024, bị can Nguyễn Thanh T1 rủ bị cáo Nghiêm Thị P, Hoàng Bảo L, Nguyễn Tuấn A và các đối tượng Phạm Gia T6, Vũ Thị Diễm M1, Lê Thị Quỳnh N, Trần Thị N1, Dương Thị Quỳnh T3, Vũ Minh T4, Nguyễn Đắc T2 và Phạm Gia T5 sử dụng trái phép chất ma túy tại căn hộ A tòa R khu đô thị V, thị trấn T, G, Hà Nội của Nguyễn Thanh T1 và Nghiêm Thị P. Sau đó, Hoàng Bảo L là người mua ma túy “kẹo” (MDMA), K1, “nước vui” đưa cho bị cáo Nguyễn Tuấn A mang lên căn hộ 1206 tòa R103 và là người rủ Nguyễn Thanh T1 mua thêm ma túy “nước vui” để T1, P, L, Tuấn A, T6, M1, N, N1, T3, Minh T4, Gia T5, T2 cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Khi T1, P, L, Tuấn A, T6, M1, N, N1, T3, Minh T4, G, T2 đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ, thu giữ tổng số 4,197 gam ma túy loại Ketamine; 4,485 gam ma túy loại Methamphetamine; 120ml dung dịch màu vàng có ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA, ma túy loại Ketamine và N2; 230ml dung dịch màu đỏ có ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA, ma túy loại 2C-B, ma túy loại Ketamine và N2 còn lại chưa sử dụng hết.

    Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nghiêm Thị P và bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điêu 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng quy định của pháp luật.

    Xét kháng cáo của bị cáo Nghiêm Thị P, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; nhân thân chưa tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu, chồng bị cáo tham gia trong vụ án và cũng đã có mức phạt nghiêm khắc, con còn nhỏ. Do bị cáo để chồng của bị cáo rủ các đối tượng khác vào sử dụng ma túy tại nhà của vợ chồng bị cáo mà bị cáo không can ngăn nên vai trò thực hiện hành vi của bị cáo không đáng kể, nên cần xem xét giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho bị cáo.

    Do bị cáo Tuấn A rút đơn kháng cáo nên HĐXX không xét.

    Do kháng cáo của bị cáo P được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

    Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên cũng cần rút kinh nghiệm với tòa án cấp sơ thẩm không viết hết lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phần nhận định tách đối tượng Lê Minh Q để xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nghiêm Thị P, khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A.

    - Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nghiêm Thị P, về việc xin được giảm nhẹ hình phạt. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo Nghiêm Thị P, cụ thể như sau:

    Căn cứ điểm b khoản 2 điều 255; điểm s, n khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17; điều 58; điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Nghiêm Thị P 04 (bốn) năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt đi thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 12/4/2024 đến ngày 21/4/2024.

    Căn cứ khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A.

  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo P, Tuấn A không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKS TP. Hà Nội;

  • - Công an, VKS, Tòa án, Chi cục THADS

  • quận Hai Bà Trưng;

  • - Bị cáo, người có QVNVLQ;

  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Thu Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2025/HS-PT ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 93/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự - Nghiêm Thị Phương, Nguyễn Tuấn Anh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger