Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2025/HS-PT

Ngày 17-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Bùi Đăng

Ông Nguyễn Lê Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 68/2025/TLPT-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo Lê Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Văn T, sinh ngày 25 tháng 7 năm 1972, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ (đã chết) và bà Lương Thị C; Có vợ và 03 con; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Các bị hại:

  • + Trần Nguyễn Yến N (đã chết)
  • Người đại diện hợp pháp: Ông Trần L, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị Mộng H, sinh năm 1989 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Cùng nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  • + Trần Lê Mỹ U, sinh ngày 23/6/2016
  • Người đại diện hợp pháp: Ông Trần C1, sinh năm 1984 và bà Lê Thị Lan T1,

sinh năm 1995 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Cùng nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Trần Lê Mỹ U: Luật sư Huỳnh Thị Ngọc T2 - Cộng tác viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 20/7/2024, Lê Văn T, sinh năm 1972, trú tại thôn D, xã Đ, huyện Đ điều khiển xe ô tô khách biển số 50F- 035.60 (không có nồng độ cồn trong máu, có giấy phép lái xe hạng E theo quy định) chở công nhân từ huyện X, tỉnh Đồng Nai về thị trấn Đ, huyện Đ.

Khoảng 07 giờ 15 phút cùng ngày, xe ô tô khách biển số 50F-035.60 do Lê Văn T điều khiển đi đến ngã tư có đèn tín hiệu giao thông giao nhau giữa đường ĐT 766 và đường T. Lúc này, Lê Văn T điều khiển xe chuyển hướng sang đường T và dừng lại để công nhân xuống xe. Sau đó, Lê Văn T điều khiển xe di chuyển về hướng khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ. Khi đến trước số nhà H, đường T thuộc tổ D, khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, do không chú ý quan sát phía trước nên xe ô tô khách biển số 50F-035.60 đã tung vào hai xe đạp đi cùng chiều phía trước. Trong đó 01 xe đạp màu xanh do cháu Trần Nguyễn Yến N, sinh ngày 02/8/2015 điều khiển chở theo sau cháu Trần Lê Mỹ U, sinh ngày 23/6/2016 và 01 xe đạp màu đỏ do cháu Trần Lê Thảo V, sinh ngày 19/8/2014, cùng trú tại thôn C, xã Đ, huyện Đ điều khiển. Hậu quả: Cháu Trần Nguyễn Yến N chết do S chấn thương nặng không hồi phục do đa chấn thương/Vỡ khung chậu phức tạp, vỡ khoang bụng, vỡ bàng quang phức tạp. Cháu Trần Lê Mỹ U bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 9% (Chín phần trăm).

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bàn ảnh hiện trường vụ tai nạn giao thông lập lúc 7 giờ 50 ngày 20/7/2024 thể hiện:

  1. Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại trước số nhà H, đường T, tổ D, khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, bằng phẳng, không có vật che khuất, ở giữa đường có dải phân cách được trồng cây xanh rộng 2,4m, chia đường thành hai chiều lưu thông, mỗi phần đường rộng 7,6m mặt đường trải nhựa, khô ráo.
  2. Việc đánh dấu, ký hiệu phương tiện, dấu vết tại hiện trường:
    • (1) Xe ô tô biển số 50F-035.60, loại xe khách 47 chỗ ngồi.
    • (2) 01 chiếc dép màu vàng, dép trái, loại dép trẻ em kích thước (20x11)cm.
    • (3) Vết chà dài 4m30 x rộng 24cm.
    • (4) Vết cày đứt quảng dài 4m20.
    • (5) 01 đôi dép màu đỏ, loại dép trẻ em + 01 tay thắng xe đạp bị gãy.
    • (6) Vùng chất màu nâu đỏ kích thước (2 x 0,3)m.
    • (7) Xe đạp màu xanh, loại xe trẻ em.
    • (8) 01 chiếc dép phải màu vàng, loại dép trẻ em kích thước (20x11) cm.
    • (9) 01 xe đạp màu đỏ, loại xe trẻ em.
  3. Xác định hướng khám nghiệm hiện trường theo hướng từ đường ĐT 766 đi hướng khu phố A, thị trấn Đ.
    • - Lấy mép đường bên phải làm lề chuẩn.
    • - Lấy trụ điện số ĐH 15/A05 làm điểm mốc.
  4. Quá trình khám nghiệm:
    • (1) Xe ô tô biển số 50F-035.60 loại xe khách 47 chỗ ngồi dừng trên phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm, đầu xe quay về hướng khu phố A, thị trấn Đ, đuôi xe quay về hướng đường ĐT 766, đo tâm trục bánh sau bên phải đến lề chuẩn là 2m10, đo tâm trục bánh trước bên phải đến lề chuẩn là 2m15, đo tâm trục bánh sau bên phải đến trụ biển báo cấm dừng đổ (Biển báo p.130) là 25m70, đo tâm trục bánh sau bên trái đến đường Đ là 34m00. Đo tâm trục bánh trước bên trái đến điểm mốc là 4m40.
    • (2) 01 chiếc dép màu vàng, dép trái, loại dép trẻ em, kích thước (20 x 11)cm nằm trên phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm, dưới gầm xe, đo từ (2) đến lề chuẩn là 2m20, đo tâm trục bánh sau bên phải xe (1) đến (2) là 0m80.
    • (3) Vết chà dài 4m30 x rộng 24cm, nằm trên phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm, trên vết chà có bám dính chất dịch màu đỏ, đo đầu vết chà đến lề chuẩn là 2m30, đuôi vết chà kết thúc tại bánh xe trước bên phải xe (1), đo đuôi vết chà đến lề chuẩn là 2m15, đo từ (2) đến đầu vết chà (3) là 1m00.
    • (4) Vết cày đứt quãng dài 4m20, nằm trên phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm, đo đầu vết cày đến lề chuẩn là 2m15, đo từ đuôi vết cày đến lề chuẩn là 2m17, đo đầu vết chà (3) đến đầu vết cày (4) là 0,4m.
    • (5) 01 đôi dép màu đỏ, loại dép trẻ em + 01 tay thắng xe đạp bị gãy, nằm trên phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm, đo từ (5) đến lề chuẩn là 1m70, đo từ đầu vết cày (4) đến (5) là 2m60.
    • (6) Vùng chất màu nâu đỏ kích thước (2 x 0,3)m nằm trên phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm, đo tâm (6) đến lề chuẩn là 1m50, đo (5) đến tâm (6) là 1m45.
    • (7) Xe đạp màu xanh, loại xe trẻ em dựng trên đường, trên phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm, đo tâm trục bánh trước đến lề chuẩn là 0m30, đo tâm trục bánh sau đến lề chuẩn là 0m35, đầu xe quay về hướng khu phố A, Đ, đuôi xe quay về hướng đường ĐT 766, đo tâm (6) đến tâm trục bánh xe trước xe (7) là 1m40; đo tâm trục bánh sau đến tâm trục bánh trước bên phải xe (1) là 1m75.
    • (8) 01 chiếc dép màu vàng, dép phải, loại dép trẻ em, kích thước (20 x 11)cm, nằm trên phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm, đo số (8) đến lề chuẩn là 2m55, đo tâm trục bánh xe trước xe (7) đến (8) là 2m10.
    • (9) Xe đạp màu đỏ, loại xe trẻ em nằm ngã nghiêng bên trái theo hướng khám nghiệm, đầu xe quay về hướng khu phố A, Đ, đuôi xe quay về hướng đường ĐT766, đo tâm trục bánh trước đến lề chuẩn là 2m70, đo tâm trục bánh sau đến lề chuẩn là 2m70, đo (8) đến tâm trục bánh sau là 1m60, đo tâm trục bánh sau đến tâm trục bánh trước bên trái xe (1) là 3m40. Đo tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô 50F-035.60 đến biển báo cấm ngược chiều 102 là 22,3m

Về phương tiện trong vụ tai nạn giao thông:

  • Xe ô tô biển số 50F-035.60: Nhãn hiệu HYUNDAI, màu sơn đỏ-trắng, loại xe khách 47 chỗ ngồi, có chữ “Xuân Lữ”, kích thước xe (11m50 x 2m50 x 3m00). Qua khám nghiệm phương tiện, ghi nhận như sau:
    • + Cản xe trước bên phải có vết trầy xước mất sơn kích thước (7 x 0,2)cm, đo tâm dấu vết xuống đường là 50cm.
    • + Cạnh dưới cản xe trước bên phải có vùng trượt xước mất sơn kích thước (42 x 2)cm, đo dấu vết xuống đường là 44cm.
    • + Mặt ngoài bánh xe trước bên phải có vết trượt cao su kích thước (18 x 3)cm, đo tâm dấu vết vào tâm trục bánh xe trước bên phải là 43cm.
  • Xe đạp màu sơn xanh, loại xe trẻ em, có chữ "AVA". Qua khám nghiệm phương tiện, ghi nhận như sau:
    • + Ghi đông xe bị móp méo biến dạng, có vết mài mòn kim loại.
    • + Mặt trước cùm ghi đông xe có vết mài mòn kim loại kích thước là (3,5x3)cm.
    • + Tay thắng bên phải bị đứt, gãy rơi khỏi xe.
    • + Dây thắng bên trái bị dập rách nhựa.
    • + Giỏ xe trước dính chất màu nâu đỏ.
    • + Yên xe người ngồi điều khiển bên trái có vết trượt xước nhựa kích thước (11 x 8)cm, đo tâm dấu vết xuống đường 64cm.
    • + Mặt bên trái yên xe người ngồi sau có vết trượt xước nhựa kích thước (4x2)cm, đo tâm dấu vết xuống đường là 58cm.
  • Xe đạp, màu sơn đỏ, loại xe trẻ em, có chữ “HITASA”, yên xe màu hồng. Qua khám nghiệm phương tiện, ghi nhận như sau:
    • + Cạnh sau yên xe người ngồi sau có bám dính chất màu đỏ kích thước (4,5 x 0,1)cm, đo dấu vết xuống đường là 45cm.
    • + Cạnh sau của dè chắn bùn bánh xe sau có vùng trầy xước kim loại kích thước (0,5 x 5)cm, đo dấu vết xuống đường là 27cm.

Về kết quả giám định:

Tại kết luận giám định tử thi số 868/KLGĐTT-PC09 ngày 12/08/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B đối với Trần Nguyễn Yến N sinh ngày 12/8/2015 trú tại thôn C, xã Đ, huyện Đ, kết luận:

  1. Các kết quả chính: Vùng từ bẹn phải đến bẹn trái có vết thương bong lóc cân cơ xương để lộ tổ chức dưới da, cân cơ xương và ruột non. Vết thương thấu ổ bụng. Vỡ khung chậu phức tạp, để lộ ruột non ra ngoài. Vỡ bàng quang phức tạp.
  2. Kết luận:
    • - Nguyên nhân chết: Shock chấn thương nặng không hồi phục do đa chấn thương/Vỡ khung chậu phức tạp, vỡ khoang bụng. Vỡ bàng quang phức tạp.
    • - Cơ chế; vật tác động: Vết thương do vật tày tác động theo cơ chế tỳ đè; chèn ép; ma sát tạo nên.
    • - Chiều hướng như mô tả ở vết thương.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 837/KLTTCT - TTGĐYKРУВТ ngày 23/12/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh B đối với Trần Lê Mỹ U,

sinh ngày 23/6/2016 trú tại thôn C, xã Đ, huyện Đ, kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Lê Mỹ U tại thời điểm giám định là: 9% (chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Kết luận khác: Không.

Tại bản kết luận giám định số 935/KL-KTHS ngày 16/08/2024 của phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông tại đường T, thuộc tổ D, khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ:

  1. Xe ô tô khách biển số 50F-035.60 di chuyển trên đường theo hướng từ đường Đ đi khu phố A thị trấn Đ; Xe đạp màu đỏ hiệu HITASA di chuyển cùng chiều phía trước xe ô tô khách biển số 50F-035.60; Xe đạp màu xanh hiệu AVA di chuyển cùng chiều bên phải xe ô tô khách biển số 50F-035.60.
  2. Xe ô tô khách biển số 50F-035.60 có va chạm với 02 (hai) xe đạp;
    • Xe ô tô khách biển số 50F-035.60 có dấu vết va chạm: Trượt xước mất sơn màu đỏ mặt trước 1/3 giữa cản trước bên phải, cách góc cản trước bên phải 80cm, cao nhất cách đất 45cm, chiều hướng từ trước ra sau phù hợp với các dấu vết va chạm trên xe đạp màu đỏ hiệu HITASA: Trượt xước kim loại màu trắng trên bề mặt có bám dính chất màu đỏ mặt trên cạnh sau yên xe sau, chiều hướng từ sau ra trước, cao cách đất 45cm;
    • Xe ô tô khách biển số 50F-035.60 có các dấu vết va chạm: Trượt cao su màu đen mặt ngoài lốp bánh xe trục I bên phải, có chiều hướng ngược với chiều tiến của bánh xe phù hợp với các dấu vết va chạm trên xe đạp màu xanh hiệu AVA: Trượt nhựa màu xám, trên bề mặt có bám dính chất màu đen mặt ngoài yên xe trước bên trái, chiều hướng từ sau ra trước, từ trái qua phải;
    • Xe ô tô khách biển số 50F-035.60 va chạm với xe đạp màu xanh hiệu AVA và xe đạp màu đỏ hiệu HITASA tại phần đường bên phải theo hướng từ đường ĐT766 đi khu phố A, thị trấn Đ;
    • Xe đạp màu xanh hiệu AVA không va chạm với xe đạp màu đỏ hiệu HITASA.
  3. Vết chà ký hiệu số (3) trên hiện trường do mặt lăn bánh xe trục I bên phải của xe ô tô khách biển số 50F-035.60 để lại khi phanh.
  4. Vết cày ký hiệu số (4) trên hiện trường do cổ lái của xe đạp màu xanh hiệu AVA ngã trượt trên mặt đường tạo nên.
  5. 01 (một) tay phanh bằng kim loại màu trắng là phần gãy ra từ vị trí tay phanh bên phải của xe đạp màu xanh ký hiệu AVA.
  6. Vận tốc của xe ô tô khách biển số 50F-035.60 tại thời điểm để lại vết phanh là từ 27,32km/giờ đến 29,21km/giờ.

Tại bản kết luận giám định số 924/KL-KTHS ngày 14/08/2024 của phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Tại thời điểm giám định xe ô tô biển số 50F-035.60:

  1. Hệ thống lái thuộc lái có trợ lực lắp đặt đầy đủ, đúng vị trí kỹ thuật, không phát hiện hư hỏng.
  2. Hệ thống lái hoạt động bình thường, đảm bảo chuyển hướng theo ý muốn của người điều khiển.

  3. Hệ thống phanh chính thuộc loại phanh hơi có trợ lực lắp đặt đầy đủ, đúng vị trí kỹ thuật, không phát hiện hư hỏng.
  4. Hệ thống phanh tay (phanh đỗ) có các cụm chi tiết lắp đặt đúng vị trí, kỹ thuật, không phát hiện hư hỏng.

    Hiện tại hệ thống phanh chính và phanh đỗ của xe ô tô biển số 50F-035.60 hoạt động bình thường.

  5. Đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước và phía sau bên phải và bên trái, đồng hồ báo hiệu, còi hoạt động bình thường

Không đủ căn cứ tiêu chuẩn để tiến hành giám định 01 xe đạp màu sơn xanh, loại xe trẻ em và 01 xe đạp màu sơn đỏ, loại xe trẻ em.

Tại bàn kết luận giám định số 932/KL-KTHS ngày 14/8/2024 của phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • - Giấy phép lái xe số: [...], mang tên Lê Văn T, sinh ngày 25/7/1972, nơi cư trú: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, do sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 15/12/2020 là thật.
  • - Phôi giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 50 002336, tên chủ xe: Nguyễn Thanh T3, địa chỉ: 664 QL22, ấp P, xã P, huyện C, TP., nơi cấp: Công an huyện C cấp ngày 21/12/2022, biển số đăng ký 50F-035.60 là thật.
  • - Không tiến hành giám định hình dấu và chữ ký trên Chứng nhận đăng ký

xe ô tô số: 50 002336 do không có mẫu so sánh.

Tại phiếu xét nghiệm nồng độ cồn trong máu, phiếu xét nghiệm ma túy tại bệnh viện Đ1 ngày 20/7/2024 xác định: Nồng độ cồn trong máu Lê Văn T là 0 và âm tính với chất ma túy.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 Xe ô tô biển số 50F-035.60, 01 giấy đăng ký xe ô tô mang tên Nguyễn Thanh T3, địa chỉ: 664 QL22, ấp P, xã P, huyện C, TP., 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 50F-035.60, 01 giấy phép lái xe hạng E mang tên Lê Văn T, 01 giấy phép lái xe hạng E tên Lê Văn T đều đã trả lại cho Lê Văn T. 01 đôi dép màu đỏ, loại dép trẻ em đã trả lại cho ông Trần L là cha ruột cháu Trần Nguyễn Yến N. 01 xe đạp, có chữ “AVA”, loại xe trẻ em, màu sơn xanh, 01 xe đạp, có chữ “HITASA” loại xe trẻ em, màu sơn đỏ, 01 chiếc dép màu vàng, dép trái, kích thước (20 x 11)cm, 01 chiếc dép màu vàng, dép phải, kích thước (20 x 11)cm đã trả lại cho bà Lê Thị Lan T1 là mẹ ruột của hai cháu Trần Lê Mỹ U, Trần Lê Thảo V.
  • - 01 tay thắng xe đạp bị gãy hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

Về dân sự:

Bị cáo Lê Văn T đã bồi thường cho gia đình cháu Trần Nguyễn Yến N số tiền 100.000.000 đồng và bồi thường cho gia đình cháu Trần Lê Mỹ U 25.000.000 đồng. Gia đình cháu Trần Nguyễn Yến N và gia đình cháu Trần Lê Mỹ U không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025, của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh đã quyết định:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Lê Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên các quyết định khác về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng biết.

Ngày 02 tháng 4 năm 2025, bị cáo Lê Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình

phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo Lê Văn T: Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để có cơ hội ở ngoài xã hội lao động nuôi các con nhỏ, mẹ già và hỗ trợ gia đình các bị hại.
  • - Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025, của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, về giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo (Ấn định thời gian thử thách và giải thích chế định án treo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

[2] Việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: những người đại diện hợp pháp của các bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 292, 351 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và khẳng định Tòa sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng tội danh, không oan. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Lê Văn T là tài xế điều khiển xe ô tô khách biển số 50F-035.60 (có giấy phép lái xe hạng E theo quy định, không có nồng độ cồn). Vào khoảng 07 giờ 15 phút ngày 20/7/2024 khi đang lưu thông trên đoạn đường T, thuộc tổ D, khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ do không chú ý quan sát đã đề xe ô tô khách biển số 50F-035.60 do mình điều khiển va chạm vào xe đạp do cháu Trần Nguyễn Yến N điều khiển chở theo sau cháu Trần Lê Mỹ U đang lưu thông cùng chiều. Hậu quả cháu Trần Nguyễn Yến N chết, Trần Lê Mỹ U bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 9%. Hành vi điều khiển xe ô tô khách biển số 50F-035.60 không chú ý quan sát, gây tại nạn giao thông của bị cáo đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014, hậu quả gây ra chết người nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xét xử bị cáo với tội danh và hình phạt như trên theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo Lê Văn T: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét

thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, tự nguyện khắc phục một phần thiệt hại, gia đình bị hại xin bãi nại và miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà Tòa sơ thẩm đã áp dụng để xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù là phù hợp, không nặng.

Tuy nhiên, trong giai đoạn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đưa ra những tình tiết, chứng cứ mới mà chưa được xem xét ở Tòa sơ thẩm như: Bị cáo tự nguyện tiếp tục khắc phục thiệt hại thêm cho gia đình bị hại; gia đình bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo. Gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính để nuôi mẹ già và 03 con. Đây là lỗi vô ý do bị cáo thiếu quan sát khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ; bị cáo có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng; đối chiếu với quy định của pháp luật thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo nên nghĩ không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần giao về cho chính quyền địa phương nơi cư trú để phối hợp cùng gia đình cải tạo, giáo dục bị cáo là được. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị thì có hiệu lực kể từ ngày hết thời gian kháng cáo, kháng nghị. Tòa án phúc thẩm không xem xét trong bản án này.

[6] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Lê Văn T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, về giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Lê Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày 17 tháng 6 năm 2025.

Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân xã G, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 94 của Luật Thi hành án Hình sự năm 2019 nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì Công an cấp xã đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo, đề nghị Cơ quan thi hành án hình sự Công an tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu, tiêu huỷ: 01 tay thắng xe đạp bị gãy.

(Hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/02/2025).

3. Về án phí:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;

Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.

Lê Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (17/6/2025).

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo ngay tại phiên tòa).

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TA, VKS, THA huyện Đức Linh;
  • - CA, UBND xã Đức Hạnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an tỉnh Bình Thuận;
  • - Lưu: Hồ sơ, TỔ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2025/HS-PT ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 93/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger