TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 93/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-6-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Tấn Dũng.
- Ông Nguyễn Tuấn Lam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118a/2025/QĐXX-ST ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bảo N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2000; Nơi cư trú: Ấp LH, xã LT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trần P, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1993; Nơi cư trú: Ấp LH, xã LT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 3 năm 2025 và biên bản lấy lời khai ngày 23 tháng 5 năm 2025 của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bảo N trình bày: Vào năm 2016, chị và anh Nguyễn Trần P cưới nhau, trước khi cưới có quen biết, tìm hiểu nhau được khoảng 01 năm và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã LT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 03 tháng 01 năm 2019. Sau khi cưới thì cả hai về sống chung nhà với gia đình anh P, khoảng được 02 năm thì cả hai đi Đồng Nai làm thuê. Thời gian đầu vợ chồng sống chung với nhau hạnh phúc, nhưng đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, không thông cảm, không thấu hiểu cho nhau, không tôn trọng nhau, cả hai đã không còn sống chung hơn 03 năm nay. Từ lúc không còn sống chung thì cả hai không còn liên lạc với nhau và anh P cũng không về thăm con. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Trần P. Về con chung: Trong thời gian sống chung, chị và anh Nguyễn Trần P có được 02 con chung là Nguyễn Bảo D, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2017 và Nguyễn Bảo Trúc D1, sinh ngày 13 tháng 7 năm 2020, hiện 02 con chung đang sống với chị, nay ly hôn chị yêu cầu được nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian sống chung vợ chồng chị không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Nguyễn Trần P đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bảo N được ly hôn với anh Nguyễn Trần P; về nuôi con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Bảo D, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2017 và Nguyễn Bảo Trúc D1, sinh ngày 13 tháng 7 năm 2020 cho chị Nguyễn Thị Bảo N được tiếp tục nuôi dưỡng, anh Nguyễn Trần P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N chưa có yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Bảo N trình bày không có, còn anh Nguyễn Trần P không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bảo N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Trần P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Bảo N và anh Nguyễn Trần P là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Bảo N đối với anh Nguyễn Trần P, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị N thì cuộc sống của chị và anh P không còn hạnh phúc từ năm 2022 do phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, không thông cảm, không thấu hiểu cho nhau, không tôn trọng nhau, cả hai đã không còn sống chung hơn 03 năm nay. Từ lúc không còn sống chung thì cả hai không còn liên lạc với nhau và anh P cũng không về thăm con. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị N và anh P hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Bảo N ly hôn với anh Nguyễn Trần P.
[4] Về việc nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Bảo N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Bảo D, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2017 và Nguyễn Bảo Trúc D1, sinh ngày 13 tháng 7 năm 2020, không yêu cầu anh Nguyễn Trần P cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị N và anh P không còn sống chung và cho đến hiện tại thì 02 con chung đều do chị N trực tiếp nuôi dưỡng, vì vậy để đảm bảo cuộc sống ổn định cho 02 cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không buộc anh P cấp dưỡng nuôi con do chị N chưa có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Bảo N cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Nguyễn Trần P không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[6] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bảo N, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bảo N và anh Nguyễn Trần P.
- Về nuôi con chung:
- Chị Nguyễn Thị Bảo N được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung Nguyễn Bảo D, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2017 và Nguyễn Bảo Trúc D1, sinh ngày 13 tháng 7 năm 2020.
- Anh Nguyễn Trần P không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Bảo N chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0014770 ngày 07 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lương Bằng |
Bản án số 93/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 93/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị N yêu cầu ly hôn với anh P
