|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 93/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 – 5 – 2025
V/v tranh chấp Ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
- - Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hữu Tấn – Ông Trần Thanh Việt
- - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Ông Hồ Duy Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 289/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “tranh chấp Ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 263/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/4/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 243A/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09/5/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Trần Thanh M, sinh năm 1986;
- Nơi thường trú: số 105/07HG, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Địa chỉ hiện tại: số G, đường số C, khóm T, phường M, thành Phố L, tỉnh An Giang. SĐT: 0868.242.xxx
- - Bị đơn: Bà Bùi Thị Bích T, sinh năm 1989;
- Nơi cư trú: tổ B, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Trần Thanh M trình bày:
Về hôn nhân: ông M và bà T do tự nguyện quen biết và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 13/2012 ngày 31/01/2012. Sau khi chung sống hạnh phúc được 16 năm thì phát sinh mâu thuân do tình tính không phù hợp, thường xuyên cự cãi. Sau đó, bà T cũng có tình cảm với người đàn ông khác và ông bà đã ly thân được hơn 04 năm. Nay cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên ông yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Ông bà có 04 (bốn) con chung tên Trần Thị Thảo L, sinh ngày 30/06/2005; Trần Thị Thảo N, sinh ngày 29/01/2010; Trần Thị Thảo V, sinh ngày 19/9/2011; Trần Thị Thảo X, sinh ngày 11/11/2018 con chung đang sống với bà Bùi Thị Bích T. Cháu Thảo L đã trưởng thành và có khả năng lao động. Riêng cháu N, V, X thì ông M đồng ý giao các con cho bà Bùi Thị Bích T tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng ông sẽ chu cấp theo khả năng, không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: giải quyết theo quy định pháp luật.
Bà T không có thiện chí đến hòa giải mà ông bà đã không còn tình cảm gì với nhau, ông kiên quyết ly hôn. Do đó ông xin không tiếp tục hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử, đồng thời ông bận đi làm, khó xin nghỉ nên xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Bị đơn bà Bùi Thị Bích T đã được Tòa án tổng đạt các thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật nhưng bà không gửi văn bản tự khai và không tham gia tổ tụng nên không ghi nhận được ý kiến của bà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: ông M khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà T, địa chỉ cư trú của bà T thuộc thành phố L, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng ông M xin xét xử vắng mặt, bà T thì vắng mặt không có lý do chính đáng tại phiên toà lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông M, bà T theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Ông M và bà T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 21/01/2012 tại UBND phường M, thành phố L nên được pháp luật Việt Nam công nhận hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp. Nay cuộc sống hôn nhân phát sinh mâu thuẫn và tình cảm vợ chồng không còn nên ông M yêu cầu được ly hôn với bà T.
[2.2] Tòa án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà T để bà thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên cho đến nay bà T vẫn vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như ông tự từ bỏ quyền lợi của bản thân.
[2.3] Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau cũng như chia sẻ, hỗ trợ nhau trong cuộc sống nhưng trên thực tế giữa ông bà đã phát sinh mâu thuẫn, không còn sự thăm nom, chăm sóc lẫn nhau, ông bà đã ly thân trên 04 năm. Trong suốt thời gian vừa qua, ông bà vẫn không tìm được phương pháp hòa giải mâu thuẫn do đó ông M gửi đơn yêu cầu ly hôn. Nay ông M vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, từ chối hòa giải và xin vắng mặt khi xét xử cho thấy sự cương quyết trong việc yêu cầu ly hôn, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải tạo điều kiện cho ông bà hàn gắn lại với nhau nhưng bà T vắng mặt cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đến Tòa án, điều này chứng tỏ bà T không có thiện chí muốn hàn gắn đoàn tụ gia đình, không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của ông M. Như vậy cho thấy cuộc sống chung của ông bà không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai do đó yêu cầu ly hôn của ông M với bà T là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.4] Về con chung: Ông bà có 04 (bốn) con chung tên Trần Thị Thảo L, sinh ngày 30/06/2005; Trần Thị Thảo N, sinh ngày 29/01/2010; Trần Thị Thảo V, sinh ngày 19/9/2011; Trần Thị Thảo X, sinh ngày 11/11/2018 con chung đang sống với bà Bùi Thị Bích T. Cháu Thảo L đã trưởng thành và có khả năng lao động. Riêng cháu N, V, X thì ông M đồng ý giao các con cho bà Bùi Thị Bích T tiếp tục nuôi dưỡng. Bà T không có ý kiến về quyền nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, các con chung đang do bà T nuôi dưỡng do đó, để đảm bảo ổn định trong cuộc sống sinh hoạt, học tập cho con chung cũng như phù hợp với nguyện vọng của các con chung (tại văn bản trình bày ý kiến ngày 21/4/2025) nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao các con chung Trần Thị Thảo N, Trần Thị Thảo V, Trần Thị Thảo X cho bà T được tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: không giải quyết do không yêu cầu.
[2.5] Bà T và các thành viên gia đình không được cản trở ông M trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu sẽ được giải quyết thành vụ án khác.
[2.6] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.7] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: ông M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà T không phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh M.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Trần Thanh M ly hôn với bà Bùi Thị Bích T. Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2012, quyển 01/2012 ngày 31/01/2012 của Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L cấp cho bà T, ông M không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về quan hệ con chung: Ông bà có 04 (bốn) con chung tên Trần Thị Thảo L, sinh ngày 30/06/2005; Trần Thị Thảo N, sinh ngày 29/01/2010; Trần Thị Thảo V, sinh ngày 19/9/2011; Trần Thị Thảo X, sinh ngày 11/11/2018 con chung đang sống với bà Bùi Thị Bích T. Cháu Thảo L đã trưởng thành và có khả năng lao động. Giao con chung Trần Thị Thảo N, Trần Thị Thảo V, Trần Thị Thảo X cho bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: không giải quyết.
Bà T và các thành viên gia đình không được cản trở ông M trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu sẽ được giải quyết thành vụ án khác.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: ông Trần Thanh M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002581 ngày 28/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên. Bà Bùi Thị Bích T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Ông Trần Thanh M và bà Bùi Thị Bích T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Cẩm Hường |
Nơi nhận:
- - Đương sự;
- - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
- - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
- - Chi cục Thi hành án dân sự cùng cấp;
- - Ủy ban nhân dân xã/phường;
- - Lưu; hồ sơ vụ án, văn phòng.
Bản án số 93/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 93/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
