|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG THÀNH PHỐ HUẾ Bản án số: 93/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29-5-2025 Về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hóa.
- Ông Võ Nguyên Vũ.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa:
Bà Ngô Thị Loan- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố H (Số B Đường H, thị trấn P, huyện P, thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 75/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 2001.
Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố H.
Địa chỉ liên lạc: 1 P, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Bùi Khắc T, sinh năm 1995.
Nơi cư trú: Thôn P, xã V, huyện P, thành phố H.
Địa chỉ liên lạc: 6 đường số A phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/3/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn- chị Nguyễn Thị L trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Bùi Khắc T quen biết nhau thông qua sự giới thiệu của hai bên gia đình, sau một thời gian tìm hiểu nhau thì kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, thành phố H ngày 06/6/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian tại Thôn P, xã V, huyện P, thành phố H thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T thường nghe lời mẹ, không nghe lời vợ, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã, xúc phạm lẫn nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L xin được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị L xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Khánh T1, sinh ngày 14/9/2019, hiện ở cùng với anh Bùi Khắc T. Chị L có nguyện vọng giao con chung cho anh Bùi Khắc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi. Chị L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị L khai không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vào ngày 09/5/2025, chị Nguyễn Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 06/5/2025, bị đơn- anh Bùi Khắc T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Khắc T và chị Nguyễn Thị L tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 06/6/2019 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, thành phố H. Vợ chồng chung sống được một thời gian tại thôn P, xã V, huyện P thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên gây gổ, cải vã, ly thân đã được một thời gian. Nay chị L xin ly hôn thì anh T đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.
- Về con chung: Anh Bùi Khắc T xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Khánh T1, sinh ngày 14/9/2019, hiện ở cùng với anh Bùi Khắc T. Anh T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T1 đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi, không yêu cầu chị L cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Bùi Khắc T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vào ngày 06/5/2025, anh Bùi Khắc T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có kiến nghị gì cần khắc phục.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L, cho chị L được ly hôn anh T. Về con chung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị L, anh T để cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Khánh T1, sinh ngày 14/9/2019 đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; chị L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Về tài sản chung và nợ chung, chị L, anh T đều xác nhận không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Buộc chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Bùi Khắc T chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét về yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L, thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, lời khai của chị L, anh T, quá trình Tòa án điều tra, xác minh thu thập chứng cứ, có cơ sở xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên mâu thuẫn, vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vợ chồng ly thân đã một thời gian dài. Quá trình giải quyết, anh T cũng đồng ý ly hôn chị L. Nhận thấy vợ chồng anh T, chị L đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Bùi Khắc T là đúng quy định pháp luật, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tại phiên tòa.
[3] Về con chung: Chị L, anh T có 01 người con chung là cháu Bùi Khánh T1, sinh ngày 14/9/2019, hiện cháu đang được anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị L, anh T đồng ý giao cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Khánh T1 đến khi thành niên, đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Quá trình giải quyết, mặc dù anh T không yêu cầu nhưng chị L có nguyện vọng cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Xét để đảm bảo quyền và lợi ích của con chung, cần chấp nhận sự tự nguyện của chị L về cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Bùi Khắc T xác nhận không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L, cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Bùi Khắc T. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
-
Về con chung: Giao cháu Bùi Khánh T1, sinh ngày 14/9/2019 cho Anh Bùi Khắc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị L cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu T1 thành niên, đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị L, anh T không yêu cầu Tòa án không giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng và 300.000 đồng án phí giải quyết cấp dưỡng nuôi con; được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0002617 ngày 03/4/2025; chị Nguyễn Thị L còn phải nộp thêm 300.000 đồng.
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thúc Mỹ |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 93/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 93/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Lượm - Bùi Khắc Thắng
