Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 14 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26-11-2025

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Thuý Liễu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chau Sơn Khánh; ông Chau Rót Tha.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Chau Pho Ly– Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 415/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự;

Nguyên đơn: Bà Neáng Sóc P, sinh năm 1980. Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã T, tỉnh An Giang, (có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Chau T, sinh năm 1977. Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã T, tỉnh An Giang, (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn bà Neáng Sóc P trình bày:

Qua thời gian quen biết và tìm hiểu, bà Neáng Sóc P và ông Chau Thanh T1 đến hôn nhân nhưng không đăng ký kết hôn. Bà Neáng Sóc P và ông Chau T chung sống như vợ chồng kể từ năm 1999 cho đến nay. Trong thời gian chung sống thường xảy ra mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm, không có tiến nói chung, thường xuyên cự cãi nhau. Do bà Neáng Sóc P nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với ông Chau T. Về con chung: Có hai con chung tên Chau Sóc T2, sinh ngày 09/4/2000 và Neáng Đa L, sinh ngày 03/7/2002. Hiện Chau Sóc T2 và Neáng Đa L đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại lời khai trong quá trình giải quyết tại Tòa án, bị đơn ông Chau T trình bày:

Qua quá trình tìm hiểu, ông Chau T và bà Neáng Sóc P có tiến đến hôn nhân vào năm 1999 có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống thì ông Chau T và bà Neáng Sóc P có hai con chung tên Chau Sóc T2, sinh ngày 09/4/2000 và Neáng Đa L, sinh ngày 03/7/2002. Hiện Chau Sóc T2 và Neáng Đa L đã trưởng thành và có cuộc sống riêng. Trong quá trình chung sống ông Chau T và bà Neáng Sóc P có nhiều mâu thuẫn phát sinh về kinh tế gia đình nên không hạnh phúc dẫn đến mâu thuẫn trong hôn nhân ngày càng nghiêm trọng. Đến khoảng năm 2021 thì ông Chau T và bà Neáng Sóc P ly thân cho đến nay. Do không còn tình cảm nên ông Chau T yêu cầu được ly hôn với bà Neáng Sóc P. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Neáng Sóc P và ông Chau T, về con chung, tài sản chung và nợ chung thì không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết, về án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Neáng Sóc P và bị đơn ông Chau T cùng có đơn xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Chau T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã T, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP, ngày 27/6/2025 hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.

[2] Về nội dung vụ án: Giữa bà Neáng Sóc P và ông Chau T chung sống với nhau như vợ chồng từ 1999 nhưng không có đăng ký kết hôn. Tại biên bản xác minh ngày 29/10/2025 Ủy ban nhân dân xã T cung cấp thông tin: “Qua tra cứu dữ liệu lưu trữ của Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh An Giang từ năm 1998 cho đến nay thì không tìm thấy dữ liệu cũng như hồ sơ về việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã của ông Chau T, sinh năm 1977, địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã T, tỉnh An Giang và bà Neáng Sóc P, sinh năm 1980, địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã T, tỉnh An Giang”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, thì “Nam, nữ có điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng”. Trường hợp hôn nhân của bà Neáng Sóc P và ông Chau T sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn nên không được công nhận là quan hệ vợ chồng. Từ đó, không có cơ sở giải quyết ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn mà cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng của Neáng Sóc P và ông Chau T theo quy định khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Về con chung: Bà Neáng Sóc P và ông Chau T có hai con chung tên Chau Sóc T2, sinh ngày 09/4/2000 và Neáng Đa L, sinh ngày 03/7/2002. Hiện cháu Chau Sóc T2 và Neáng Đa L đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: Bà Neáng Sóc P khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông Chau T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP, ngày 27/6/2025 hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Neáng Sóc P. Tuyên bố không công nhận bà Neáng Sóc P và ông Chau T là vợ chồng.

[2] Về con chung: Bà Neáng Sóc P và ông Chau T có hai con chung tên Chau Sóc T2, sinh ngày 09/4/2000 và Neáng Đa L, sinh ngày 03/7/2002. Hiện cháu Chau Sóc T2 và Neáng Đa L đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Neáng Sóc P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0003277 ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14 – An Giang, bà Neáng Sóc P đã nộp đủ án phí, ông Chau T không phải chịu án phí.

[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

[6] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 14 – An Giang;
  • - Phòng THADS khu vực 14 – An Giang;
  • - UBND xã Tri Tôn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Sơn Thị Thúy Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2025/HNGĐ-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 93/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Neang P; Chau T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger