|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 93/2025/HNGĐ-ST Ngày 26/5/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Khắc Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh, ông Bùi Văn Hồng
Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Vân Nga, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thanh H, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 32/2025/TLST-HNGĐ, ngày 19/02/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 05 năm 2025;
Nguyên đơn: Chị Phan Thị L, sinh năm 1987; địa chỉ: Số A, đường H, làng H, thị trấn L, huyện C, Đài Loan, Trung Quốc, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Phi P, sinh năm 1978; địa chỉ; Số G, ngõ B, đường V, phường T, tp H, tỉnh Hà Tĩnh; có ý kiến xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị M trình bày:
Về hôn nhân: Chị Phan Thị L và anh Nguyễn Phi P đăng ký kết hôn với nhau ngày 20 tháng 4 năm 2006 có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Vợ chồng chung sống hòa thuận được đến khoảng năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do anh P có hành vi chửi bới, bạo lực với chị L. Chị L đã nhiều lần khuyên nhủ và nhờ gia đinh hai bên hòa giải nhưng anh P không thay đổi. Năm 2019, do cuộc sống khó khăn, chị L đã đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan đến nay chưa về. Cùng với những mâu thuẫn từ trước và khoảng cách địa lý nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể giải quyết được. Hiện tại, chị L xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã hết sức trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Vì vậy, chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Phi P.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung: Nguyễn Thị Khánh L1, sinh ngày 20/01/2008 và Nguyễn Thị Khánh H1, sinh ngày 11/5/2009. Hiện cả hai cháu đang sinh sống cùng anh Nguyễn Phi P ở phường T, nay là phường T, tp H, tỉnh Hà Tĩnh. Nguyện vọng của chị L khi ly hôn là giao hai con chung cho anh Nguyễn Phi P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai tại Tòa án, anh Nguyễn Phi P trình bày vợ chồng anh chị kết hôn với nhau ngày 20 tháng 4 năm 2006 có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình chung sống, vợ chồng không phát sinh mâu thuẫn gì, chỉ có chị L đi nước ngoài rồi về yêu cầu ly hôn. Do đó, quan điểm của anh P là không đồng ý ly hôn vì giữa vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Về con chung: Anh Nguyễn Phi P thống nhất trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn đề nghị Tòa án giao cả hai con chung Nguyễn Thị Khánh L1, sinh ngày 20/01/2008 và Nguyễn Thị Khánh H1, sinh ngày 11/5/2009 cho anh Nguyễn Phi P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Anh P không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản: Anh P thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết; đồng thời anh đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc vắng mặt anh.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến tại phiên toà hôm nay: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại các Điều 28, 37, 48, 49, 51, 196, 227, 469, 479 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền trình tự thủ tục thu thập chứng cứ đúng pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đã cung cấp đầy đủ kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án và đã có đầy đủ lời khai tại hồ sơ.
Về đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 227, Điều 273, Điều 469, 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 57; các Điều 58, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 BLTTDS; Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
- + Về tình cảm: Xử cho chị Phan Thị L được ly hôn anh Nguyễn Phi P.
- + Về con chung: Vợ chồng thống nhất giao hai con chung Nguyễn Thị Khánh L1, sinh ngày 20/01/2008 và Nguyễn Thị Khánh H1, sinh ngày 11/5/2009 cho anh Nguyễn Phi P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xem xét.
- + Về án phí: Chị Phan Thị L tự nguyện chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn và giải quyết vấn đề nuôi con; bị đơn anh Nguyễn Phi P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường T, nay là phường T, tp H, tỉnh Hà Tĩnh. Tại thời điểm thụ lý vụ án, chị L đang lao động tự do tại Đài Loan theo xác nhận tại Công văn số 270/QLXNC-Đ1, ngày 17/3/2025 của Phòng Q, Công an tỉnh H nên việc Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án do điều kiện công việc nên chị L và anh P yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình xét xử. Chị Phan Thị L đã ủy quyền cho anh Vy Thành C, sinh năm 1993; địa chỉ: L, KĐT EuroWindow R, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội thực hiện việc giao, nhận các tài liệu, văn bản tố tụng với Tòa án; Căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị Phan Thị L và anh Nguyễn Phi P theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ tình cảm: Chị Phan Thị L và anh Nguyễn Phi P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai lừa dối, ép buộc, đảm bảo điều kiện kết hôn và đăng ký đúng quy định của pháp luật, do đó có đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống, chị L cho rằng anh Nguyễn Phi P thường xuyên có hành vi chửi bới bạo lực với chị L nên chị L vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Phi P. Anh Nguyễn Phi P cho rằng giữa vợ chồng anh không có mâu thuẫn gì nên anh không thống nhất ly hôn, song, quá trình giải quyết vụ án, anh P không có động thái gì để hòa giải đoàn tụ gia đình. Xét thấy, vợ chồng anh P, chị L cũng đã ly thân từ lâu, cuộc sống chung hôn nhân không thể tái thiết lập, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, việc duy trì hôn nhân giữa chị L và anh P là không có ý nghĩa nên HĐXX có đủ cơ sở xử cho chị L được ly hôn anh Nguyễn Phi P.
[2.2] Về con chung: Xét thấy, chị Phan Thị L và anh Nguyễn Phi P đều thống nhất đề nghị Tòa án giao hai con chung Nguyễn Thị Khánh L1, sinh ngày 20/01/2008 và Nguyễn Thị Khánh H1, sinh ngày 11/5/2009 cho anh Nguyễn Phi P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết, các cháu Khánh L1 và Khánh H1 cũng đã có đơn nguyện vọng được ở với bố là anh Nguyễn Phi P. Xét điều kiện chị L hiện không có mặt tại Việt Nam không thể đảm bảo việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu nên, HĐXX cần chấp nhận sự thống nhất thỏa thuận của chị L và anh P giao hai con chung Khánh L1 và Khánh H1 cho anh Nguyễn Phi P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phan Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn Phi P không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX miễn xét.
[2.3] Về tài sản chung: Xét ý chí cả hai đương sự đều thống nhất tự nguyện không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.
[3] Về án phí: Chị Phan Thị L tự nguyện chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 227, Điều 273, Điều 469, 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Khoản 1 Điều 56; Điều 57; các Điều 58, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 BLTTDS; Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về hôn nhân: Chị Phan Thị L được ly hôn anh Nguyễn Phi P.
- Về con chung: Công nhận sự thống nhất thỏa thuận của các đương sự giao hai con chung Nguyễn Thị Khánh L1, sinh ngày 20/01/2008 và Nguyễn Thị Khánh H1, sinh ngày 11/5/2009 cho anh Nguyễn Phi P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị Phan Thị L được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm. Về cấp dưỡng nuôi con, chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
- Về tài sản chung: Các đương sự thống nhất không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.
- Về án phí: Chị Phan Thị L tự nguyện nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Tính trừ cho chị L trong số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số [...], ngày 19/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt bị đơn, vắng mặt nguyên đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án (hoặc ngày niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật). Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Khắc Hoàng |
5
Bản án số 93/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 93/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, Cho chị Phan Thị L được ly hôn anh Nguyễn Phi Ph.
